Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

tư vấn xin giấy phép quảng cáo

Gần tết nguyên đán các doanh nghiệp đang ra sức PR cũng như quảng cáo nhằm tăng sức mua của người tiêu dùng với sản phẩm của mình, nhưng các sản phẩm muốn được quảng cáo ở bất kể đâu cũng cần phải có giấy phép mới được thực hiện, nếu bạn đang muốn xin giấy phép quảng cáo nhưng lại vướng mắc các thủ tục hồ sơ hãy liên hệ ngay tới Việt Tín để được tư vấn trực tiếp hoàn toàn miễn phí nhé !

Chúng tôi với đội ngũ chuyên viên giàu kinh nghiệm tư vấn xin giấy phép sẽ hỗ trợ bạn lập hồ sơ và gửi cơ quan nhà nước giúp bạn tiết kiệm thời gian và tiền bạc ....

Nếu có nhu cầu xin giấy phép quảng cáo hãy liên hệ ngay tới Việt Tín để được tư vấn trực tiếp hoàn toàn miễn phí !

Dịch vụ xin giấy phép vệ sinh cho nhà hàng và doanh nghiệp

Nhằm thực hiện luật an toàn thực phẩm của bộ y tế ban hành, các doanh nghiệp có ngành nghề buôn bán cần phải xin giấy phép vệ sinh, cả các cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm và các sản phẩm liên quan tới thực phẩm đều phải xin giấy phép này, vì thế chúng tôi có cung cấp dịch vụ xin giấy phép vệ sinh cho các bạn ...

Giấy phép vệ sinh không phải dễ xin nên nếu các doanh nghiệp hay cá nhân có nhu cầu xin giấy phép nhưng đang vướng mắc các hồ sơ hãy liên hệ ngay tới Việt Tín nhé !

Chúng tôi với chuyên viên nhiều kinh nghiệm tư vấn xin giấy phép sẽ giúp bạn lập hồ sơ và thay mặt bạn lên cơ quan nhà nước để giao dịch nên bạn yên tâm về chất lượng dịch vụ ...

Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Đăng ký kiểu dáng công nghiệp

Là một trong các tài sản trí tuệ quan trọng của doanh nghiệp, kiểu dáng công nghiệp đóng một vai trò sống còn cho sản phẩm của bạn trên thị trường, nó được cải tiến ? Mang tính mới ? .... và bạn đang muốn bảo vệ cho tài sản trí tuệ vô hình của mình trên thị trường ? Hãy sử dụng dịch vụ đăng ký kiểu dáng công nghiệp của chúng tôi - thương hiệu luật nổi tiếng Việt Tín !

Kiểu dáng công nghiệp được coi là mới đối với thế giới, nếu trước ngày nộp đơn hợp lệ/ ngày ưu tiên của đơn, kiểu dáng công nghiệp đó: Khác biệt cơ bản với các kiểu dáng công nghiệp đã được mô tả trong các đơn nộp cho Cơ quan SHCN; khác biệt cơ bản với các kiểu dáng công nghiệp tương tự đã được công bố trong các nguồn thông tin như nguồn thông tin liên quan đến bảo hộ KDCN ở nước ngoài, các nguồn thông tin khác); chưa được bộc lộ công khai ở trong và ngoài nước tới mức căn cứ vào đó chuyên gia có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng có thể thực hiện được KDCN đó.

- Kiểu dáng công nghiệp được dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc tiểu thủ công nghiệp, nghĩa là có thể chế tạo hàng loạt bằng phương pháp công nghiệp hoặc tiểu thủ công nghiệp sản phẩm có hình dáng bên ngoài là Kiểu dáng công nghiệp.
Tham khảo thêm thông tin tại đây: http://viettinlaw.com/dang-ky-bao-ho-kieu-dang-cong-nghiep.html

Đăng ký bảo hộ cho phần mềm máy tính

Việt Tín là một trong các tổ hợp luật sư lớn nhất cả nước, với sự am hiểu sâu sắc luật sở hữu trí tuệ, chúng tôi có cung cấp cho các bạn dịch vụ đăng ký bảo hộ cho phần mềm máy tính, với dịch vụ chất lượng cao, giá thành rẻ, bạn sẽ nhanh chóng bảo hộ bản quyền cho phần mềm của mình.

Hồ sơ đăng ký bản quyền tác giả

Hồ sơ đăng ký bảo hộ bản quyền phần mềm máy tính bao gồm (tham khảo mẫu kèm theo):
  • Bản sao có công chứng Giấy đăng ký kinh doanh;
  • Giấy uỷ quyền (ký và đóng dấu);
  • Giấy xác nhận quyền chủ sở hữu tác phẩm;
  • Giấy cam đoan của tác giả sáng tác tác phẩm do nhiệm vụ được giao;
  • Bản sao Giấy chứng minh thư nhân dân của tác giả;
  • 02 đĩa CD ghi nội dung phần mềm;
  • Ba (03) bản in tác phẩm được đóng thành quyển.

Lưu ý khi đăng ký bản quyền

  • Tác phẩm phần mềm có thể đăng ký dưới dạng đồng tác giả;
  • Tác giả phần mềm nếu là cán bộ, công nhân viên lao động hưởng lương thì có thể đăng ký cho công ty ký hợp đồng lao động là chủ sở hữu tác phẩm đó;
  • Nếu tác giả là người đại diện theo pháp luật của công ty thì việc ký xác nhận phải do các thành viên khác trong ban lãnh đạo công ty ký xác nhận;
  • Đĩa CD phải có bìa bọc mầu trắng để đóng dấu.

Đăng ký logo độc quyền

Nhằm giúp bảo vệ tài sản trí tuệ của bạn là logo của công ty, Việt Tín chúng tôi có cung cấp dịch vụ tư vấn đăng ký logo độc quyền cho quý bạn và các vị.

Bạn đang vướng mắc thủ tục hồ sơ đăng ký logo ? hoặc bạn đang cần tìm một dịch vụ giúp bạn bảo vệ tài sản trí tuệ của bạn ? Hãy liên hệ ngay tới Việt Tín để được tư vấn trực tiếp hoàn toàn miễn phí !

Logo là tài sản quan trọng của doanh nghiệp, hãy bảo vệ nó ngay hôm nay để tránh bị xâm hại bởi các đối thủ ...

Về thủ tục bạn có thể tham khảo tại đây: http://xingiayphep2.blogspot.com/2013/03/thu-tuc-ang-ky-logo-oc-quyen.html

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

Công bố phụ gia thực phẩm

Việt Tín chúng tôi chuyên tư vấn xin giấy phép công bố phụ gia thực phẩm cho các doanh nghiệp và các cơ quan chức năng khác, các nhà phân phối hàng hóa cũng chọn chúng tôi làm đối tác thường xuyên, nếu bạn đang vướng mắc thủ tục hồ sơ đừng ngại liên hệ ngay tới chúng tôi để được tư vấn trực tiếp hoàn toàn miễn phí !

Xem thêm các thông tin khác về thủ tục và hồ sơ tại đây: http://viettinlaw.com/cong-bo-phu-gia-thuc-pham.html

Hồ sơ xin công bố như sau:

1. Bản công bố tiêu chuẩn chất lượng (theo Mẫu 1 ban hành kèm theo văn bản này);

2. Quyết định của chủ cơ sở sản xuất thực phẩm ban hành tiêu chuẩn cơ sở (có đóng dấu), bao gồm các nội dung: các chỉ tiêu cảm quan (màu sắc, mùi vị, trạng thái), chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, tiêu chuẩn chỉ điểm chất lượng, chỉ tiêu vệ sinh về hoá lý, vi sinh vật, kim loại nặng; thành phần nguyên liệu và phụ gia thực phẩm; thời hạn sử dụng; hướng dẫn sử dụng và bảo quản; chất liệu bao bì và quy cách bao gói (theo Mẫu 2 ban hành kèm theo văn bản này);

3. Quy trình sản xuất thực phẩm cơ sở (vẽ riêng hoặc vẽ kèm trong bản công bố)

4. Giấy đăng ký kinh doanh của thương nhân Việt Nam (bản sao công chứng).

5. Phiếu kết quả kiểm nghiệm gồm các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, chỉ tiêu chỉ điểm chất lượng và chỉ tiêu vệ sinh của thực phẩm công bố phải do Phòng kiểm nghiệm được công nhận hoặc được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chỉ định.

6. Mẫu có gắn nhãn và nhãn hoặc dự thảo nội dung ghi nhãn sản phẩm phù hợp với pháp luật về nhãn (có đóng dấu của thương nhân).

7. Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh, an toàn thực phẩm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc Giấy chứng nhận đã được cấp (bản sao).

8. Bản sao Giấy chứng nhận sở hữu nhãn hiệu hàng hoá (nếu có).

9. Bản sao biên lai nộp phí thẩm định hồ sơ và lệ phí cấp số chứng nhận cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận.

Nếu vẫn còn thắc mắc hãy gọi điện tới đường dây nóng của Việt Tín để được trợ giúp kịp thời .

Công bố rượu và bia nhập khẩu

Việt Tín chúng tôi đã tư vấn cho rất nhiều cơ quan tổ chức lập hồ sơ công bố các sản phẩm rượu và bia nhập khẩu thành công, chúng tôi với chuyên viên có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn hóa, chúng tôi đảm bảo hồ sơ của bạn được hoàn thành trong thời gian sớm nhất và thủ tục đơn giản nhất, tiết kiệm chi phí và thời gian cho bạn.

Hồ sơ công bố rượu nhập khẩu

  • Bản công bố tiêu chuẩn sản phẩm;
  • Bản tiêu chuẩn cơ sở do thương nhân ban hành;
  • Giấy đăng ký kinh doanh của thương nhân Việt Nam hoặc Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của công ty sản xuất nước ngoài;
  • Tiêu chuẩn sản phẩm (Products Specification) của nhà sản xuất hoặc Phiếu kết quả kiểm nghiệm của nhà sản xuất hoặc của cơ quan kiểm định độc lập nước xuất xứ;
  • Nhãn sản phẩm hoặc ảnh chụp nhãn sản phẩm và dự thảo nội dung ghi nhãn phụ;
  • Mẫu có gắn nhãn (nếu có yêu cầu để thẩm định);
  • Bản sao biên lai nộp phí thẩm định hồ sơ và lệ phí cấp số chứng nhận cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận.

Liên hệ tới đường dây nóng của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp hoàn toàn miễn phí !

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

Công bố lưu hành cho mỳ ăn liền nhập khẩu

Công bố lưu hành cho mỳ ăn liền nhập khẩu: Xin chào các bạn, tôi là Nguyễn Quang Hiển – nhân viên tư vấn, tôi đang cầm trên tay là một nhãn hiệu mỳ ăn liền của Nhật Bản được một doanh nghiệp tại Hồ Chí Minh nhập khẩu, và […]

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

Trách nhiệm của các thành viên công ty TNHH 2 thành viên


Tôi tên Anh Thư, xin được tư vấn về việc thành lập công ty TNHH với chi tiết như sau:

1. Chồng tôi định góp vốn thành lập công ty TNHH kinh doanh phân phối dược phẩm cùng một người bạn A. Xin tư vấn về thủ tục thành lập công ty TNHH.

2. Tuy nhiên ngành dược không phải sở trường của chồng tôi nên người bạn A cùng góp vốn (rất rất ít trong tổng số vốn) sẽ làm Giám đốc điều hành công ty. Vậy chồng tôi sẽ là Chủ tịch hội đồng thành viên (CTHĐTV)? Theo tôi biết thì CTHĐTV có nhiệm kỳ 3 năm, sau 3 năm chồng tôi sẽ tiếp tục làm CTHĐTV không hay phải thay đổi?

3. Việc điều hành công ty sẽ do người bạn A chịu trách nhiệm. Giám đốc hay chồng tôi sẽ là người đại diện pháp luật? Nên như thế nào? Trong trường hợp lỗ vốn, nợ nần hay phá sản thì chồng tôi chịu trách nhiệm như thế nào trước pháp luật và các đối tác liên quan? Nếu trong kinh doanh, vị giám đốc A không thực hiện đúng quy định của pháp luật thì chồng tôi sẽ chịu trách nhiệm liên đới không?

4. Trụ sở công ty đặt tại nhà tôi, kho hàng cũng tại nhà tôi. Trong trường hợp vị giám đốc A cố ý kinh doanh hoặc tồn trữ các mặt hàng cấm thì vợ chồng tôi sẽ chịu trách nhiệm liên đới không?

Chẳng hạn vị Giám đốc A cố tình dùng nhà tôi làm chỗ chứa các dược phẩm cấm xen lẫn với các loại thuốc khác (tất nhiên vợ chồng tôi không biết và không thể kiểm tra được vì không rành về thuốc...). Vậy trách nhiệm sẽ được phân định thế nào? Nhân viên kế toán, thủ kho có trách nhiệm gì không?

Cần làm những thủ tục gì để tránh trường hợp này xảy ra hay để phân định rõ trách nhiệm khi có việc không hay xảy ra?

Tôi có nên làm hợp đồng cho thuê nhà làm trụ sở và kho hàng công ty dù không lấy tiền thuê nhà không?

5. Theo tôi biết thì cần có điều lệ công ty, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn, quyền lợi của các thành viên góp vốn. Điều này là cần thiết và bắt buộc phải không? Lợi ích của điều lệ đối với pháp luật?

Rất mong sớm nhận được tư vấn của anh, chị.

Xin cảm ơn và chúc anh, chị nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.

Anh Thư

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

Giấy phép lao động và giấy phép lưu trú cho người nước ngoài - dịch vụ của Topiclaw

Sáng nay là một sáng đầy may mắn của +Nguyễn Linh khi nhận được cùng lúc cả giấy phép lao động cho người nước ngoài và thẻ tạm trú cho người nước ngoài.


Các cá nhân làm cho các tổ chức, hoặc theo hợp đồng kinh tế là người nước ngoài thì đều phải xin giấy phép lưu trú và giấy phép lao động mới được sinh sống và lao động tại Việt Nam, hồ sơ thì rõ ràng là bằng ấy thứ  nhưng không phải cá nhân hay tổ chức nào cũng có thời gian để đi xin giấy phép này, việc đó có thể đơn giản hơn nhiều nếu bạn liên hệ tới Việt Tín  và gặp bạn Hạnh, bạn ấy tư vấn trực tiếp mà !


Việt Tín cũng cung cấp dịch vụ gia hạn giấy phép lao động cho cá nhân là người nước ngoài đang lao động tại Việt Nam, các bạn có thể liên hệ tới Việt Tín   để được tư vấn thêm nhé !


Chúc mọi người một ngày làm việc vui vẻ !

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

Thành lập doanh nghiệp

Lựa chọn một công ty cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp để bạn đủ tin tưởng là điều khó, Việt Tín hiểu được bạn nhờ nhiều năm kinh nghiệm tư vấn thành lập doanh nghiệp cho hàng ngàn doanh nghiệp trong thời gian qua đáng để bạn phải lưu tâm với các thông tin sau:

Trước hết xin mời bạn nghiên cứu qua các vấn đề mà chúng tôi sẽ tư vấn, trường hợp bạn còn bất kỳ một thắc mắc nào có thể đăng câu hỏi cho chúng tôi.




Chọn tên khi thành lập doanh nghiệp

Topiclaw chuyên tư vấn các loại hình doanh nghiệp

Việc chọn một tên thật ấn tượng và dễ nhớ, nó sẽ là thương hiệu để phát triển lâu dài là việc làm khó cho các thương nhân tương lai. Việc lựa chọn tên cho doanh nghiệp phải không được trùng hay gây nhầm lẫn cho khách hàng cũng như các doanh nghiệp khác, Topiclaw sẽ giúp bạn tra cứu tên doanh nghiệp đã tồn tại hay chưa, chúng tôi cũng tư vấn cho bạn chọn một cái tên phù hợp nhất, dễ nhớ và dễ phát triển nhất, bạn có thể tham khảo thêm thông tin hướng dẫn đặt tên cho công ty.




Chọn loại hình cho doanh nghiệp khi thành lập

Loại hình doanh nghiệp tại nước ta rất đa dạng, bao gồm các loại hình chính như:

Công ty cổ phần

Công ty trách nhiệm hữu hạn

Công ty tư nhân

Công ty hợp danh

Công ty liên doanh nước ngoài

Việc lựa chọn loại hình cho doanh nghiệp của bạn là tùy thuộc vào số người góp vốn, xu hướng phát triển hay đơn giản là bạn thích nó. Topiclaw sẽ tư vấn cho bạn một loại hình doanh nghiệp thích hợp nhất cho ngành nghề kinh doanh của bạn, theo sở thích hoặc bất cứ lý do nào khác.




Lựa chọn vốn điều lệ cho doanh nghiệp mới

Vốn điều lệ là mức vốn của doanh nghiệp do bạn quyết định, nhà nước sẽ không kiểm tra trừ khi đó là ngành nghề kinh doanh yêu cầu có vốn pháp định. Vốn điều lệ càng cao thì bạn phải đóng thuế môn bài hàng năm càng cao, nhưng lại thể hiện trách nhiệm cao hơn với doanh nghiệp của chủ doanh nghiệp cũng như người góp vốn.




Thông tin thêm

Vốn điều lệ thành lập công ty tnhh

Vốn điều lệ ảnh hưởng tới các cổ đông thế nào

Thời hạn đóng góp vốn điều lệ

Cách điều chỉnh vốn điều lệ

Việc góp vốn vào doanh nghiệp là do thỏa thuận chung giữa bạn và các cộng sự, thời gian hoàn thành việc góp vốn cũng như hình thức góp vốn cũng vậy.




Đăng ký ngành nghề cho doanh nghiệp khi thành lập

Ngành nghề kinh doanh phải được đăng ký ở mã ngành cấp 4, việc tra cứu cũng như đăng ký mã ngành nghề là do Topiclaw soạn thảo cho bạn, dựa trên ngành nghề chính mà doanh nghiệp sẽ kinh doanh, hoàn toàn do bạn quyết định.




Theo luật doanh nghiệp thì ngành nghề đăng ký là không hạn chế số lượng, nhưng khi bạn đăng ký các mã ngành nghề có điều kiện ( bao gồm điều kiện trước và điều kiện sau ) thì bạn cần phải bổ sung cùng hoặc sau các giấy tờ thỏa mãn mới được kinh doanh các ngành nghề đó, trường hợp doanh nghiệp có mở rộng kinh doanh chưa có mã trong giấy đăng ký kinh doanh thì bạn cần phải làm các thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh.




Lưu ý: về trụ sở doanh nghiệp là không quan trọng, bạn có thể chọn bất kỳ một địa chỉ nào hợp lệ là được, không cần phải giấy tờ thuê mượn văn phòng.




Tại sao nên chọn Topiclaw để thành lập doanh nghiệp

Vì chúng tôi là rẻ nhất, dịch vụ thành lập doanh nghiệp trọn gói từ A tới Z, quý khách chỉ cần phải lo lắng cho bản kế hoạch kinh doanh sắp tới của mình mà thôi.




Vì sao chúng tôi rẻ nhất ? Chúng tôi cung cấp miễn phí dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp một năm sau thành lập, hơn thế nữa chúng tôi còn tư vấn cho quý vị các cách thức kê khai thuế ban đầu, miễn phí một năm tư vấn kế toán qua điện thoại của công ty.




Khách hàng không có điều kiện tới trụ sở có thể được chuyên viên của chúng tôi đến tận nơi tư vấn trực tiếp, khi quý khách sử dụng dịch vụ của chúng tôi một lần, lần hai trở đi sẽ được giảm giá 10% phí dịch vụ tiếp theo.




Liên hệ dịch vụ

Bạn có thể gọi ngay vào đường dây nóng của chúng tôi dưới chân trang, hoặc có thể nhận được sự trợ giúp của chúng tôi trực tiếp qua điện thoại cố định, hoặc linh hoạt hơn, bạn có thể gửi yêu cầu dịch vụ vào hòm thư của chúng tôi.




Nếu bạn có điều kiện đi lại, đừng ngần ngại tới trực tiếp trung tâm trợ giúp doanh nghiệp của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp.

Chúc các bạn thành công, hãy liên hệ ngay tới dịch vụ của Việt Tín ngay hôm nay để được tư vấn cặn kẽ và giá thành rẻ nhất !


Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

Đăng ký lưu hành sản phẩm

Đăng ký lưu hành sản phẩm tại Việt Tín. Chúng tôi đã tư vấn và làm thủ tục đăng ký lưu hành sản phẩm khác nhau trên toàn quốc. Chúng tôi vô cùng tự hào vì đã tạo sự tin tưởng tuyệt đối cho khách hàng bằng những hài lòng của khách hàng sau khi đã sử dụng dịch vụ dành cho công ty chúng tôi. Chúng tôi với nhưng chuyên viên Luật chuyên nghiệp đã có kinh nghiệm lâu năm luôn làm việc hết mình vì lợi ích của khách hàng luôn là tiêu chí được đặt lên hàng đầu của công ty chúng tôi.

Thủ tục đăng ký lưu hành sản phẩm:

1. Đơn xin đăng ký (Theo mẫu)

2. Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc các giấy tờ khác hợp lệ chứng minh cơ sở đó có chức năng sản xuất, buôn bán hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn.

3. Bản kết quả kiểm nghiệm thành phần và hàm lượng hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn của các cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam cấp. Trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam không kiểm nghiệm được thành phần và hàm lượng thì có thể sử dụng kết quả kiểm nghiệm thành phần và hàm lượng của các nhà sản xuất có uy tín trên thế giới, hoặc của những nước có Hiệp định về chất lượng hàng hoá với Việt Nam. Trong trường hợp nghi ngờ, Bộ Y tế sẽ gửi mẫu ra nước ngoài để kiểm nghiệm và cơ sở xin đăng ký phải chịu mọi chi phí cho việc kiểm nghiệm.

4. Bản trả lời kết quả khảo nghiệm của các đơn vị khảo nghiệm do Bộ Y tế Việt Nam chỉ định.

5. Giấy chứng nhận hoặc tài liệu xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về sản phẩm đã được phép lưu hành hoặc chứng chỉ bán tự do của nước sở tại hoặc của ít nhất là một nước đang cho phép sử dụng (đối với hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn nhập khẩu).

6. Tài liệu kỹ thuật về những vấn đề sau:

Thành phần, cấu tạo

Tác dụng và hướng dẫn sử dụng

Tác dụng phụ, cách xử lý

Tính ổn định và cách bảo quản

Quy trình sản xuất

7. Nội dung nhãn hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn xin đăng ký.

1.2- Đối với các hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn sau đây, ngoài các tài liệu nêu trên thì cần phải bổ sung thêm tài liệu sau:

a) Các hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn lần đầu tiên được nghiên cứu sản xuất tại Việt Nam thì phải có kết quả nghiên cứu được Bộ Y tế công nhận theo quy định hiện hành.

b) Các hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn được sản xuất tại Việt Nam được áp dụng quy trình công nghệ của nhà sản xuất nước ngoài phải có thư ủy quyền (bản gốc hoặc công chứng) cho phép sử dụng quy trình công nghệ và nhãn hiệu hàng hóa.

c) Các hoá chất, chế phẩm được sản xuất tại Việt Nam áp dụng các quy trình công nghệ đã công bố, nhà sản xuất phải cung cấp các tài liệu về công thức, quy trình sản xuất đã được công bố bằng bản chính hoặc bản sao có công chứng.

b) Đối với các hoá chất, chế phẩm sản xuất tại Việt Nam mà áp dụng các quy trình công nghệ đơn giản, phổ biến và sản xuất thủ công như pha loãng, gia công đóng gói, nhà sản xuất chỉ cần mô tả quy trình sản xuất nhưng phải có bản cam kết đảm bảo hiệu lực, an toàn cho người sử dụng và môi trường.

Note: Bộ Y tế không nhận đăng ký các trường hợp hoá chất, chế phẩm không có nguồn gốc rõ ràng và không đúng theo quy định hiện hành.

Hồ sơ đăng ký hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn phải làm thành hai bộ, một bộ là các bản gốc, một bộ là các bản sao. Các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt, các văn bản có tính pháp lý phải là bản gốc hoặc bản sao hợp lệ. Hồ sơ phải đóng bìa, có danh mục tài liệu.

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Y tế sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành, nếu không cấp thì sẽ trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do không cấp.

Thời hạn của Giấy chứng nhận đăng ký lưu hành là 5 năm.

Mọi chi tiết về dịch vụ đăng ký lưu hành hóa chất gia dụng và y tế xin liên hệ Công ty TNHH tư vấn Việt Tín

Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

Dịch vụ công bố sản phẩm của Việt Tín

Dịch vụ công bố sản phẩm của Việt Tín vẫn là một trong những dịch vụ tốt nhất và rẻ nhất, Việt Tín vẫn tự hào vì duy nhất công ty cung cấp giá dịch vụ tốt nhất và nhanh nhất nên thương hiệu của công ty cổ phần Panamax ngày càng khẳng định được thương hiệu - thương hiệu của chất lượng và giá cả.

Với một thao tác đơn giản có thể tìm kiếm hàng ngàn dịch vụ trên mạng internet, nhưng không thể bỏ qua dịch vụ công bố mỹ phẩm của Việt Tín - hiện chúng tôi đang đứng tại Top 1 của các công cụ tìm kiếm, với dịch vụ này các khách hàng là doanh nghiệp sản xuất hay nhập khẩu sẽ tiết kiệm được công sức soạn hồ sơ công bố cũng như thời gian và tiền bạc làm việc với cơ quan nhà nước.

Cũng không thể không kể đến dịch vụ công bố thực phẩm, hay công bố thực phẩm chức năng ( đây là một trong những mặt hàng nhạy cảm hiện nay, nó được gọi là thực phẩm đặc biệt ), hàng ngàn mặt hàng thực phẩm bao gồm các sản phẩm đóng gói và đồ hộp nhập khẩu đều được Việt Tín hoàn thành xuất sắc công việc của mình, nhanh nhất và tiết kiệm nhất. Một khách hàng gọi điện tới Việt Tín chia sẻ: "Chị có gọi vài đơn vị nhưng thấy các em yêu cầu ít thủ tục nhất nên chị chọn các em", đây cũng là một trong những động lực thúc đẩy nhân viên và đội ngũ quản lý của Việt Tín phấn đấu cung cấp các dịch vụ tốt hơn nữa.

Các sản phẩm khác cũng được đưa tới Việt Tín kiểm nghiệm và công bố như hôm nay, bạn +Nguyễn Linh nhận được bản hợp đồng công bố sữa nhập khẩu, hay bạn +Phạm Hằng  nhận được công bố bông y tế.

Các sản phẩm khác cũng góp mặt vào danh sách sản phẩm đã công bố của Việt Tín như: Thiết bị y tế, phân bón, thức ăn chăn nuôi, đồ dùng gia đình và nhiều sản phẩm khác ...

Việt Tín ngày càng khẳng định được thương hiệu và uy tín trong lòng khách hàng, và việc khách hàng thân thiết với Việt Tín danh sách cứ dài ra dần là một trong những động lực thúc đẩy chúng tôi làm việc và phấn đấu không ngừng cho một dịch vụ chất lượng cao hơn vượt tầm các nhà cung cấp dịch vụ kh

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Người nước ngoài có thể thành lập Cty Cổ phần ở Việt Nam không?

Tôi là người nước ngoài muốn thành lập công ty cổ phần do tôi đứng tên. Xin cho biết những điều kiện cụ thể. Nếu không có hộ khẩu thường trú có làm được không?

Bạn là người nước ngoài, nếu muốn thành lập doanh nghiệp, bạn phải tuân theo Luật đầu tư nước ngoài. Không thể thành lập Công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp được. Bạn cũng có thể góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam theo Quy chế (ban hành kèm theo Quyết định số 36/2003/QĐ-TTg ngày 11/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ).

Bạn có thể tham khảo "Luật Đầu tư nước ngoài" trong phần đính kèm.

So sánh Công ty TNHH và Công ty Cổ phần


Trong Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005:

Các quy định về Công ty TNHH được đề cập trong Chương III, từ điều 38 đến điều 76.
Các quy định về Công ty Cổ phần được đề cập trong Chương IV, từ điều 77 đến điều 129.
Để có thông tin chi tiết bạn có thể xem những thông tin này trong luật được đính kèm. Tôi cũng sưu tầm một số thông tin so sánh dưới đây để bạn tham khảo:

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH):

Là doanh nghiệp, trong đó các thành viên cùng góp vốn cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty.

Đặc điểm:

Công ty TNHH có hai thành viên trở lên, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp, nhưng không quá 50 thành viên.
Phần vốn góp của tất cả các thành viên dưới bất kỳ hình thức nào đều phải đóng đủ ngay khi thành lập công ty.
Phần vốn góp của các thành viên không được thể hiện dưới hình thức chứng khoán (như cổ phiếu trong công ty cổ phần) và được ghi rõ trong điều lệ của công ty.

Công ty TNHH không được phát hành cổ phiếu ra ngoài công chúng để huy động vốn. Do đó khả năng tăng vốn của công ty rất hạn chế.
Việc chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty bị hạn chế gắt gao. Việc chuyển nhượng vốn chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty.
Trên mọi giấy tờ giao dịch, ngoài tên công ty, vốn điều lệ của công ty phải ghi rõ các chữ "Trách nhiệm hữu hạn", viết tắt "TNHH".

Cơ cấu quản lý thường gọn nhẹ phụ thuộc vào số lượng thành viên. Nếu công ty có từ 11 thành viên trở xuống cơ cấu tổ chức quản trị gồm có hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất, Chủ tịch công ty và giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) điều hành.

Trường hợp công ty TNHH một thành viên là tổ chức, là doanh nghiệp do một tổ chức sở hữu - gọi tắt là chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khỏan nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Đối với loại công ty này thì không thành lập hội đồng thành viên. Tùy thuộc quy mô, ngành, nghề kinh doanh cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm: Hội đồng quản trị và giám đốc (Tổng giám đốc) hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc (Tổng giám đốc), trong đó Chủ tịch là chủ sở hữu công ty và là người đại diện theo pháp luật của công ty, có toàn quyền quyết định việc quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

Đối với công ty có 12 thành viên trở lên phải lập thêm ban kiểm soát.

Thuận lợi và khó khăn của công ty TNHH

Thuận lợi:

Có nhiều chủ sở hữu hơn doanh nghiệp tư nhân (DNTN) nên có thể có nhiều vốn hơn, do vậy có vị thế tài chính tạo khả năng tăng trưởng cho doanh nghiệp.
Khả năng quản lý toàn diện do có nhiều người hơn để tham gia điều hành công việc kinh doanh, các thành viên vốn có trình độ kiến thức khác nhau, họ có thể bổ sung cho nhau về các kỹ năng quản trị.
Trách nhiệm pháp lý hữu hạn.
Khó khăn:

Khó khăn về kiểm soát: Mỗi thành viên đều phải chịu trách nhiệm đối với các quyết định của bất cứ thành viên nào trong công ty. Tất cả các hoạt động dưới danh nghĩa công ty của một thành viên bất kỳ đều có sự ràng buộc với các thành viên khác mặc dù họ không được biết trước. Do đó, sự hiểu biết và mối quan hệ thân thiện giữa các thành viên là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết, bởi sự ủy quyền giữa các thành viên mang tính mặc nhiên và có phạm vi rất rộng lớn
Thiếu bền vững và ổn định, chỉ cần một thành viên gặp rủi ro hay có suy nghĩ không phù hợp là công ty có thể không còn tồn tại nữa; tất cả các hoạt động kinh doanh dễ bị đình chỉ. Sau đó nếu muốn thì bắt đầu công việc kinh doanh mới, có thể có hay không cần một công ty TNHH khác.
Công ty TNHH còn có bất lợi hơn so với DNTN về những điểm như phải chia lợi nhuận, khó giữ bí mật kinh doanh và có rủi ro chọn phải những thành viên bất tài và không trung thực.
Công ty cổ phần:

Công ty cổ phần là công ty trong đó:

Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là ba.
Vốn cuả công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần và được thể hiện dưới hình thức chứng khoán là cổ phiếu. Người có cổ phiếu gọi là cổ đông tức là thành viên công ty.
Khi thành lập các sáng lập viên (những người có sáng kiến thành lập công ty chỉ cần phải ký 20% số cổ phiếu dự tính phát hành), số còn lại họ có thể công khai gọi vốn từ những người khác.
Công ty cổ phần được phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra ngoài công chúng, do đó khả năng tăng vốn của công ty rất lớn.
Khả năng chuyển nhượng vốn của các cổ đông dễ dàng. Họ có thể bán cổ phiếu của mình một cách tự do.
Công ty cổ phần thường có đông thành viên (cổ đông) vì nó được phát hành cổ phiếu, ai mua cổ phiếu sẽ trở thành cổ đông.
Tổ chức quản lý công ty cổ phần:

Công ty cổ phần là loại công ty thông thường có rất nhiều thành viên và việc tổ chức quản lý rất phức tạp, do đó phải có một cơ chế quản lý chặt chẽ. Việc quản lý điều hành công ty cổ phần được đặt dưới quyền của ba cơ quan:

Đại hội đồng cổ đông;
Hội đồng quản trị;
Ban kiểm soát .
Đại hội đồng cổ đông:

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của công ty gồm tất cả các cổ đông. Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia đại hội đồng công ty. Là cơ quan tập thể, đại hội đồng không làm việc thường xuyên mà chỉ tồn tại trong thời gian họp và chỉ ra quyết định khi đã được các cổ đông thảo luận và biểu quyết tán thành.

Đại hội đồng cổ đông được triệu tập để thành lập công ty. Luật không quy định Đại hội đồng cổ đông phải họp trước hay sau khi có giấy phép thành lập nhưng phải tiến hành trước khi đăng ký kinh doanh. Đại hội đồng thành lập hợp lệ phải có nhóm cổ đông đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty và biểu quyết theo đa số phiếu quá bán.

Đại hội đồng bất thường: là đại hội chỉ được triệu tập để sửa đổi điều lệ công ty. Tính bất thường của Đại hội nói lên rằng đại hội sẽ quyết định những vấn đề rất quan trọng.
Đại hội đồng thường niên: được tổ chức hàng năm. Đại hội đồng thường niên quyết định những vấn đề chủ yếu sau:
Quyết định phương hướng, nhiệm vụ phát triển công ty và kế hoạch kinh doanh hàng năm.
Thảo luận và thông qua bản tổng kết năm tài chính.
Bầu, bãi miễn thành viên HĐQT và kiểm soát viên.
Quyết định số lợi nhuận trích lập các quỹ của công ty số lợi nhuận chia cho cổ đông, phân chia trách nhiệm về các thiệt hại xảy ra đối với công ty trong kinh doanh.
Quyết định các giải pháp lớn về tài chính công ty.
Xem xét sai phạm của HĐQT gây thiệt hại cho công ty.
Hội đồng quản trị (HĐQT)

HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có từ 3-12 thành viên, số lượng cụ thể được ghi trong điều lệ công ty.

HĐQT có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng. HĐQT bầu một người làm chủ tịch, chủ tịch HĐQT có thể kiêm Giám đốc (Tổng giám đốc công ty) hoặc HĐQT cử một người trong số họ làm Giám đốc hoặc thuê người làm Giám đốc công ty.

Ban kiểm soát :

Công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có ban kiểm soát từ ba đến năm thành viên.

Kiểm soát viên thay mặt các cổ đông kiểm soát các hoạt động của công ty, chủ yếu là các vấn đề tài chính. Vì vậy phải có ít nhất một kiểm soát viên có trình độ chuyên môn về kế toán. Kiểm soát viên có nhiệm vụ và quyền hạn như sau:

Kiểm soát sổ sách kế toán tài sản, các bảng tổng kế năm tài chính của công ty và triệu tập Đại hội đồng khi cần thiết;
Trình Đại hội đồng báo cáo thẩm tra các bảng tổng kết năm tài chính cuả công ty;
Báo cáo về sự kiện tài chính bất thường xảy ra về những ưu khuyết điểm trong quản lý tài chính cuả HĐQT.
Các kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng và không được kiêm nhiệm là thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc là người có liên quan trực hệ ba đời với họ.

Như vậy tổ chức công ty có sự phân công các chức năng cụ thể cho từng cơ quan khác nhau, giám sát lẫn nhau trong mọi công việc.

Thuận lợi khó khăn của công ty cổ phần

Thuận lợi:

Trách nhiệm pháp lý có giới hạn: trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn ở số tiền đầu tư của họ.
Công ty cổ phần có thể tồn tại ổn định và lâu bền
Tính chất ổn định, lâu bền, sự thừa nhận hợp pháp, khả năng chuyển nhượng các cổ phần và trách nhiệm hữu hạn, tất cả cộng lại, có nghĩa là nhà đầu tư có thể đầu tư mà không sợ gây nguy hiểm cho những tài sản cá nhân khác và có sự đảm bảo trong một chừng mực nào đo giá trị vốn đầu tư sẽ tăng lên sau mỗi năm. Điều này đã tạo khả năng cho hầu hết các công ty cổ phần tăng vốn tương đối dễ dàng.
Được chuyển nhượng quyền sở hữu: Các cổ phần hay quyền sở hữu công ty có thể được chuyển nhượng dễ dàng, chúng được ghi vào danh mục chuyển nhượng tại Sở giao dịch chứng khoán và có thể mua hay bán trong các phiên mở cửa một cách nhanh chóng. Vì vậy, các cổ đông có thể duy trì tính thanh khoản của cổ phiếu và có thể chuyển nhượng các cổ phiếu một cách thuận tiện khi họ cần tiền mặt.
Khó khăn:

Công ty cổ phần phải chấp hành các chế độ kiểm tra và báo cáo chặt chẽ.
Khó giữ bí mật: vì lợi nhuận của các cổ đông và để thu hút các nhà đầu tư tiềm tàng, công ty thường phải tiết lộ những tin tức tài chính quan trọng, những thông tin này có thể bị đối thủ cạnh tranh khai thác.
Phía các cổ đông thường thiếu quan tâm đúng mức, rất nhiều cổ đông chỉ lo nghĩ đến lãi cổ phần hàng năm và ít hay không quan tâm đến công việc của công ty. Sự quan tâm đến lãi cổ phần này đã làm cho một số ban lãnh đạo chỉ nghĩ đến mục tiêu trước mắt chứ không phải thành đạt lâu dài. Với nhiệm kỳ hữu hạn, ban lãnh đạo có thể chỉ muốn bảo toàn hay tăng lãi cổ phần để nâng cao uy tín của bản thân mình.
Công ty cổ phần bị đánh thuế hai lần. Lần thứ nhất thuế đánh vào công ty. Sau đó, khi lợi nhuận được chia, nó lại phải chịu thuế đánh vào thu nhập cá nhân của từng cổ đông.

Nên chọn phương án lập công ty nào?

Mình muốn hoạt động trong lĩnh vực sản xuất robot và gia công sửa chữa hàng điện tử gia dụng. Rất mong các anh/chị giúp đỡ một số thông tin:

Hình thức nào sau đây có lợi hơn cho lĩnh vực hoạt động này: lập công ty ở Mỹ rồi sau đó mở chi nhánh ở Việt Nam hay lập công ty ở Việt Nam (có đối tác ở Mỹ)? Vui lòng giúp mình nhận biết một số ưu khuyết điểm của 2 hình thức này?

Để mở một chi nhánh hoặc lập một công ty ở Việt Nam mình cần chuẩn bị những gì?

Ở Việt Nam, việc gia công sửa chữa hàng điện tử gia dụng (nhập về sửa chữa và xuất đi toàn bộ) sẽ chịu những loại thuế nào, bao nhiêu?

Rất cám ơn và xin tiếp thu mọi ý kiến của các anh/chị.
Về các khía cạnh thương mại, Dr. Vương đã có trả lời rất rõ cho bạn. Tôi chỉ bổ sung thêm các khía cạnh pháp lý mà bận cần xem xét trong dự án của bạn.



Bạn đang xem xét 2 hình thức, một là thành lập công ty tại Mỹ sau đó thành lập chi nhánh tại VN hoặc lập công ty tại VN (có đối tác tại Mỹ). Sau đây là một số ưu và nhược điểm bạn cần xem xét với giả định rằng bạn là người VN hoặc Việt Kiều (tôi đoán thế -- về quyền kinh doanh, Việt Kiều hiện nay về cơ bản được đối xử như bà con ở trong nước):

1/ Hình thức 1 : Thành lập công ty ở Mỹ (hoặc sử dụng một công ty Mỹ) và đầu tư tại Việt Nam. Theo hình thức này, theo quy định hiện hành công ty Mỹ có thể (1) mở chi nhánh tại Việt Nam (branch office) hoặc (2) thành lập một công ty con tại Việt Nam (dưới dạng 100% owned subsidiary hoặc liên doanh – joint venture với đối tác VN. Về hình thức pháp lý công ty con đó có thể là công ty TNHH (một thành viên hoặc có từ 2 thành viên trở lên) hoặc công ty cổ phần, theo Luật Doanh nghiệp 2005 – đây là luật chung điều chỉnh cả doanh nghiệp Việt Nam (domestic) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trước 1/7/2006, điều chỉnh riêng bởi 2 luật, Luật Đầu tư nước ngoài 1996 cho DN có vốn đầu tư nước ngoài, và Luật Doanh nghiệp 1999 cho công ty Việt Nam).

- Việc thành lập chi nhánh theo Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định 72/2006/NĐ-CP ngày 25/07/2006 (NĐ 72) hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về văn phòng đại diện và chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Bạn có thể cho rằng việc thành lập chi nhánh thì đơn giản hơn vì đã có công ty tại Mỹ, chỉ mở văn phòng ở VN và hoạt động. Tuy nhiên, thực tế chi nhánh công ty nước ngoài theo NĐ 72 có một số hạn chế bạn cần xem xét. Thứ nhất, về điều kiện thành lập, phải đáp ứng các điều kiện qui định tại NĐ 72, mà một trong các điều kiện này là công ty ở nước ngoài (công ty Mỹ) đã hoạt động không dưới 05 năm trước khi mở chi nhánh tại VN. Về phạm vi hoạt động, thì theo tôi là có rất nhiều hạn chế: chi nhánh về cơ bản chỉ được tham gia các hoạt động thương mại (hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động có liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa) căn cứ vào các cam kết của VN trong các điều nước quốc tế, ví dụ cam kết trong WTO (NĐ 72 điều chỉnh hoạt động thương mại của các thương nhân nước ngoài. Chi nhánh công ty nước ngoài trong các lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng, pháp lý … được điều chỉnh riêng). Theo cam kết WTO của VN thì đối với các hoạt động “Computer and related services”, đến 11/01/2010, chi nhánh công ty nước ngoài mới được tham gia các hoạt động này. Do đó, tôi cho rằng phạm vi hoạt động của chi nhánh theo NĐ 72 không phù hợp với các hoạt động bạn định tiến hành tại VN: “sản xuất robot và gia công sửa chữa hàng điện tử gia dụng”. Thời hạn hoạt động của chi nhánh là 5 năm.

- Việc thành lập công ty do công ty Mỹ đầu tư theo Luật Doanh nghiệp 2005 (LDN 2005) và Luật Đầu tư (chung) 2005 (LĐT 2005).

Như trên đã nêu, công ty Mỹ có thể thành lập một công ty con do mình sở hữu 100% hoặc một công ty liên doanh tại Việt Nam (cty TNHH hoặc cổ phần). Hoạt động sản xuất robot (công nghệ cao), về cơ bản được hưởng các ưu đãi về thuế. Về hoạt động “gia công sửa chữa hàng điện tử gia dụng”, cần phải xem xét cam kết của VN trong WTO có cho phép các công ty nước ngoài tham gia hoạt động này không? Theo tôi nhớ thì VN không có cam kết cụ thể về các hoạt động này, do đó việc cấp phép (giấy chứng nhận đầu tư) sẽ được xem xét từng trường hợp cụ thể. Thủ tục thành lập công ty tại VN (do công ty Mỹ đầu tư) sẽ theo LDN 2005 và LĐT 2005. Cụ thể công ty Mỹ sẽ phải nộp hồ sơ đăng ký cấp Giấy Chứng nhận Đầu tư (đồng thời là đăng ký kinh doanh) tại Sở KHĐT nơi công ty đặt trụ sở / nhà máy (Ủy ban Nhân dân cấp Giấy Chứng nhận đầu tư) hoặc Ban Quản lý Khu Công nghiệp nếu công ty đặt trụ sở tại KCN. Thời gian cấp Giấy Chứng nhận Đầu tư khoảng 1 – 2 tháng kể từ khi nộp, hồ sơ thành lập phức tạp hơn so với việc thành lập một công ty trong nước như nêu tại Mục 2 dưới đây.

Nếu bạn muốn công ty thành lập tại VN tham gia hoạt động thương mại (nhập khẩu & phân phối), thì theo lộ trình mở cửa dịch vụ của VN trong WTO, trong 1 năm đầu kể từ khi VN gia nhập WTO (11/1/2007), bắt buộc phải thành lập công ty liên doanh trong đó công ty nước ngoài chỉ được nắm tối đa 49% vốn (49/51 equity ratio). Từ 1/1/2008, tỷ lệ này có thể tăng và từ 1/1/2009, công ty nuớc ngoài có thể thành lập công ty 100% vốn tham gia vào lĩnh vực thương mại, phân phối. Cam kết của VN trong WTO bạn có thể tham khảo tại website của Bộ Thương mại.

2/ Hình thức 2 : Thành lập công ty tại VN do bạn và các cá nhân khác (Việt Kiều hoặc người Việt)

Trường hợp này hơi khác với hình thức thành lập công ty tại VN do công ty Mỹ đầu tư nên trên (công ty có vốn đầu tư nước ngoài). Với hình thức này, bạn có thể góp vốn cùng với một vài cá nhân khác (là Việt Kiều hoặc người Việt) thành lập doanh nghiệp theo LDN 2005. Hình thức có thể là công ty TNHH hoặc công ty cổ phần (ít nhất có 3 cổ đông sáng lập). Nếu mình bạn đầu tư, thì cũng có thể thành lập doanh nghiệp tư nhân. Khác biệt với việc thành lập công ty tại VN do công ty Mỹ đầu tư là không có sự tham gia (góp vốn thành lập) ngay từ đầu của nhà đầu tư nước ngoài, mà công ty VN này do người Việt (hoặc công ty tại VN) và/hoặc Việt Kiều thành lập. Việt Kiều hiện nay được đối xử bình đẳng về quyền kinh doanh đầu tư như bà con trong nước. Lưu ý thêm, trước khi thành lập công ty, Việt Kiều phải xin Giấy chứng nhận nguồn gốc Việt nam tại ĐSQ hay cơ quan lãnh sự của Việt nam ở nước sở tại hoặc tại Ủy ban về người Việt nam ở nước ngoài tại Tp. HCM.

Xem xét đến các hoạt động dự kiến bạn định tiến hành tại Việt Nam, thì việc thành lập một công ty trong nước có nhiều ưu thế. Thủ tục đơn giản (tức chi phí gia nhập thị trường cũng giảm), chỉ việc nộp hồ sơ xin cấp Giấy Chứng nhận Đăng ký Kinh doanh tại Sở KHĐT, 2 tuần là có đăng ký kinh doanh (Hồ sơ ĐKKD, xem website của Sở KHĐT Tp. HCM). Phạm vi hoạt động của công ty này cũng sẽ rộng hơn phạm vi hoạt động của công ty có vốn đầu tư nước ngoài, tôi không thấy có hạn chế gì về hoạt động “sản xuất robot và gia công sửa chữa hàng điện tử gia dụng” (bạn có thể đăng ký các hoạt động khác cho công ty, bao gồm cả hoạt động xuất nhập khẩu, đại lý … ). Thực tế các công ty trong nước được phép hoạt động đa ngành, nhiều lĩnh vực, trong khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (lựa chọn (2) nêu tại Mục 1 trên) thực tế vẫn bị hạn ở các hoạt động hay dự án cụ thể (mặc dù từ 1/7/2006 đã thống nhất điều chỉnh bởi một hệ thống LDN và LĐT 2005). Thời hạn hoạt động của công ty cũng không bị hạn chế.

Kết luận : Với các phân tích nêu trên, tôi cho rằng bạn nên thành lập một công ty trong nước để tiến hành các hoạt động dự kiến. Về việc nhập khẩu & xuất khẩu, công ty này có thể nhập hàng từ đối tác Mỹ, thực hiện gia công sửa chữa rồi xuất khẩu. Lợi điểm cơ bản của công ty trong nước là phạm vi ngành nghề rất rộng về cơ bản không bị hạn chế như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay chi nhánh công ty nước ngoài (tất nhiên ngoại trừ các mặt hàng / ngành nghề cấm hay hạn chế, nhưng cái này là chung cho mọi doanh nghiệp).

Đối với câu hỏi về thuế, hoạt động gia công sửa chữa hàng điện tử (nhập về sửa chữa và xuất đi toàn bộ) sẽ phải chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu + VAT hàng nhập khẩu. Chi tiết có thể tra cứu trên website của Tổng cục Hải quan. Về phía công ty, sẽ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, standard rate là 28%. Đối với hoạt động sản xuất robot (công nghệ cao), công ty có thể được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (miễn, giảm thuế, thuế suất ưu đãi).

Ngoài ra, đối với hoạt động nhập khẩu hàng điện tử gia dụng, tôi nhớ không nhầm thì Việt Nam có quy định cấm (hoặc ít nhất là hạn chế) nhập các mặt hàng điện tử gia dụng đã qua sử dụng. Việc gia công hàng điện tử cũng tùy từng mặt hàng mới được Bộ Thương mại cho phép nhập khẩu. Bên nên kiểm tra thêm về vấn đề này.

Xây dựng một đề án thành lập công ty cổ phần

Em đang là sinh viên năm 2. Hiện tại em có một đề tài cho môn quản trị văn phòng: "Với cương vị là trưởng phòng kinh doanh, xây dựng đề án thành lập công ty cổ phần A." Xin nhờ các anh chị giúp đỡ. Thật sự em không hình dung mình cần phải làm gì, viết gì với cái đề án này mà đến thứ 5 này em phải nộp bài rồi. Rất mong được sự góp ý của các anh các chị.

Một gợi ý -  Bạn đã tìm hiểu "Luật doanh nghiệp 2005" chưa? Bạn nghía qua từ điều 77 - điều 129 nhé! Thông tư 88, thông tư 139 hướng dẫn Luật doanh nghiệp 2005 sẽ giúp bạn thêm nhiều hơn - Đó là phần "xương".

Sau đó bạn vào GOOGLE viết từ khóa cần tìm làm tài liệu thêm - bài viết của bạn sẽ có phần "thịt"!

Rồi, giờ thì bạn có con cá có cả xương và thịt rồi. Chúc bạn may mắn!

Giúp đỡ cho công ty mới thành lập (góp vốn điều lệ)


Công ty tôi thành lập từ T6/2007 đến T6/2010 là 3 năm. Vốn điều lệ 30 tỷ (20 tỷ vốn góp cổ đông sáng lập, 10 tỷ vốn góp huy động);

Có 3 cổ đông sáng lập gọi tắt là A - B - C (A 14 tỷ- B 3 tỷ - C 3 tỷ).

(Ông A giữ chức danh Chủ tích HĐQT)

Đến tháng 3/2009:  chuyển nhượng cho 2 người mới gọi tắt là D và E

- Ông B chuyển nhượng hết số cổ phần cho 2 người là Ông A 1tỷ và  D 2 tỷ

- Ông C chuyển nhượng hết s ố cổ phần cho 2 người là Ông A 1tỷ và E 2 tỷ

Vậy đến thời điểm tháng 3/2009 thì số vốn của mỗi người là:

- Ông A: 16 tỷ; Ông D: 2 tỷ; Ông E : 2 tỷ.

 Đến T1/2010: có 2 người mới  gọi tắt là F và H góp bù số cổ phần của Ông A

- Ông A chuyển ông F là: 2tỷ

- Ông A chuyển ông H là: 3 tỷ

Vậy số cổ phần của mỗi người đến thời điểm hiện tại giờ là:

Ông A: 11tỷ; Ông D: 2 tỷ; Ông E : 2 tỷ., Ông F: 2tỷ; Ông H: 3 tỷ;

(Nhưng hiện tại Ông A, D, E chưa góp đủ số cổ phần; riêng Ông F và H góp đủ nhưng đã cho tạm ứng lại số tiền trên để tài sản cho cty có quyết định của CT.HĐQT ký)

TRong thời gian trên vốn huy động 10 tỷ vẫn được chào bán, và đến thời điểm hiện tại T6/2010 là 4tỷ.

Vậy theo BQT việc chuyển nhượng của các cổ đông sáng lập như vậy có đúng không?

Trong trường hợp quá 3 năm nhưng Ông A, D, E chưa góp đủ số cổ phần thì sẽ  chịu trách nhiệm hoặc phạt như thế nào?

Nếu trong thời gian lâu ÔNg F và H tạm ứng số tiền trên mà chưa hoàn lại tài sản hoặc bằng tiền thì chịu trách nhiệm hoặt phạt như thế nào? Có thể trục xuất ông F và H ra khỏi cty được không? nếu được thì thủ tục như thế nào?

Trong thời gian nào thì vốn huy được được chào bán (mới thành lập cty, hay qua 3 năm) ? Nếu quá 3 năm chào bán chưa đủ 10tỷ thì sẽ như thế nào?

Các bước triển khai thành lập một công ty

Các anh chị tư vấn giúp: Hiện nay tôi định mở một công ty kinh doanh thiết bị viễn thông tin học và thương mại điện tử. Tôi đọc trên Saga thấy rất nhiều bước nhưng vẫn chưa hình dung được cụ thể khi lập một công ty đầu tiên là đăng ký kinh doanh, lập chiến lược v.v. tôi chưa biết nên làm từ bước nào trước bước nào sau.


Mong các anh chị giúp đỡ. Ngoài ra anh chị nào có tài liệu hay và có thông tin mẫu liên quan có thể gởi giúp để tham khảo.


1. Đăng ký kinh doanh: Bạn phải xem xét một cách chi tiết, cẩn thận về ngành nghề kinh doanh của bạn phù hợp với loại hình pháp lý nào: DNTN, CTy TNHH, CTyCP, hay là hộ kinh doanh. Nếu là DN thì bạn chắc rằng bạn đã có 1 kế toán viên am hiểu nghiệp vụ và rành về thuế. Nếu là đăng ký DN thì bạn lại sở KH-ĐT của tỉnh, thành phố nơi bạn sống, nếu là hộ kinh doanh thì lại UBND quận, huyện, thành phố nơi bạn sống. Các bước tiếp theo là: Khắc dấu (nếu là DN), đăng ký thuế, đăng ký sở hữu trí tuệ (nếu có)

2. Bước thứ 2: Trang trí văn phòng nếu bạn đã có một văn phòng để kinh doanh, chuẩn bị các thông tin quảng cáo: in card, in tờ rơi, băng rôn quảng cáo, nội dung quảng cáo trên truyền hình, đặt bảng hiệu, thuê mướn lao động

3. Cuối cùng là nhập hàng về, định ngày khai trương và bán.

Trên đây chỉ là một số bước cơ bản trong rất nhiều các công việc mà bạn phải trải qua để thành lập công ty.

Các thông tin trên có sai sót gì, các bạn xem qua bổ sung giúp bạn rubyson nhé.

Thủ tục thành lập DN hoặc góp vốn


 Dưới đây là trình tự thủ tục của việc góp vốn và thành lập doanh nghiệp:

Về thủ tục góp vốn:

Bạn cần làm thủ tục tăng vốn điều lệ công ty, số vốn tăng do một (cá nhân giám đốc) hoặc một số thành viên công ty góp bằng tài sản là chính các cây xanh trên. Hồ sơ gồm có:


  • - Biên bản họp Hội đồng thành viên/đại hội đồng cổ đông về việc tăng vốn điều lệ và các nội dung thay đổi ĐKKD kéo theo (thay đổi cổ đông/thành viên, tỷ lệ vốn góp...).
  • - Quyết định của Hội đồng quản trị/hội đồng thành viên về việc thay đổi dkkd, tăng vốn điều lệ;
  • - Thông báo về việc thay đổi dkkd (tham khảo mẫu tại Thông tư 14/2010/TT-BKH)
  • - Danh sách số lượng, giá trị của từng cây xanh
  • - Biên bản định giá của các thành viên/cổ đông sáng lập/tổ chức định giá về giá trị của các tài sản góp vốn (điều 30 Luật doanh nghiệp)
  • - Biên bản giao nhận tài sản góp vốn (tham khảo quy định tại điều 29 Luật Doanh nghiệp)

Sau đó doanh nghiệp nộp bộ hồ sơ trên lên phòng đăng ký kinh doanh - Sở KHĐT tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để thực hiện thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh.

* Thủ tục đăng ký kinh doanh của DN cần thực hiện theo các bước sau:

CÁC THỦ TỤC THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP

Bước 1: Đăng ký thành lập doanh nghiệp với Sở kế hoạch đầu tư Tỉnh, Thành phố.

I/ Đăng ký thành lập doanh nghiệp với sở kế hoạch và đầu tư tỉnh, thành phố.
1/Công ty TNHH có 2 thành viên trở lên ( nhưng không quá tối đa 50 thành viên).

Trước khi lên sở kế hoạch và đầu tư cần phải thực hiện các giấy tờ sau:
1. Biên bản họp hội đồng thành viên về việc thành lập công ty. Trong đó, ai giữ chức vụ chủ tịch hội đồng thành viên, nếu có thành viên được hội đồng thành viên bổ nhiệm là giám đốc công ty thì không cần phải thuê giám đốc. Nếu giám đốc là thành viên ngoài hội đồng quản trị thì cần phải có quyết định bổ nhiệm giám đốc.

2. Điều lệ công ty ( các thành viên góp vốn phải ký vào từng trang của bản điều lệ), tốt nhất là làm từ 05 (năm) bản trở lên vì sở kế hoạch và đầu tư giữ một bản, một bản gởi cơ quan thuế, các bản khác lưu tại công ty, sẽ rất có ích sau này trong việc bổ sung điều lệ công ty trong quá trình hoạt động. Trong quá trình soạn điều lệ, các thành viên cần phải bàn bạc kỹ từng điều khoản.... Không nên phó thác cho cty tư vấn.

3. Giấy chứng nhận vốn góp của các thành viên ( ai góp bao nhiêu, góp bằng gì ( vàng, tài sản, usd, tiền mặt,.....phải quy đổi ra đồng việt nam tại thời điểm góp vốn; thành viên nào góp bằng tài sản là nhà cửa, máy móc, xe cộ,... thì phải thành lập thêm ban định giá tài sản quyết định giá trị của tài sản góp vốn).

4. Sổ đăng ký thành viên tham gia góp vốn.

5. Thông báo góp đủ vốn của các thành viên.

6. Giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu ( bản chính và bản sao có công chứng) của tất cả thành viên tham gia góp vốn thành lập công ty.

7. Công văn thành lập doanh nghiệp.
Sau khi đã thực hiện các giấy tờ trên đầy đủ, đến sở kế hoạch và đầu tư nộp hồ sơ.

Các bạn cũng có thể đăng ký kinh doanh qua mạng tại địa chỉ : www.dpi.hochiminhcity.gov.vn ( nếu các bạn ở tp.HCM).

Thông thường nếu hồ sơ nộp trực tiếp tại sở kế hoạch và đầu tư thì mất thời gian trong vòng khoảng 7 ngày, nhưng nếu các bạn đăng ký kinh doanh qua mạng thì hồ sơ sẽ giải quyết nhanh hơn chỉ trong vòng chưa đầy một tuần. Và khi sở kế hoạch và đầu tư có thông tin phản hồi từ việc đăng ký kinh doanh qua mạng sẽ gởi cho các bạn phiếu thu phí. Khi đó, bạn đến sở kế hoạch và đầu tư nộp các loại giấy tờ trên, và các bạn có thể lấy giấy phép trong ngày.

Khi đi lấy giấy phép, người đại diện theo pháp luật phải mang theo giấy chứng minh nhân dân bản chính còn hiệu lực trong vòng 15 năm.

Bước 2: đăng ký dấu công ty TNHH có từ 2 đến 50 thành viên.

Sau khi sở kế hoạch và đầu tư cấp giấy phép đăng ký kinh doanh cho các bạn có kèm theo giấy chứng nhận khắc dấu. Các bạn mang giấy chứng nhận khắc dấu đến Phòng Cảnh Sát Quản Lý Hành Chánh về Trật Tự Xã Hội - Công An tỉnh, thành phố để tiến hành thủ tục khắc dấu.

Nếu do các bạn đi khắc dấu thì phải có giấy uỷ quyền của người đại diện theo pháp luật công ty đó, và giấy uỷ quyền này phải được công chứng tại phòng công chứng quận, huyện.

Nếu do người đại diện theo pháp luật đi khắc dấu thì chỉ cần mang giấy chứng nhận khắc dấu thôi.

Trong cả hai trường hợp trên, đều phải mang theo giấy chứng minh nhân dân.

Thời gian để cấp con dấu hiện nay là 3 (ba) ngày, sau khi có giấy hẹn.

Lệ phí khắc dấu là :20.000đồng cộng với dấu công ty , nếu là dấu đồng thì 300.000 đồng , còn nếu là dấu có tẩm mực sẳn thì giá là 350.000 đồng.

Và khi đi lấy dấu về cũng nhớ mang theo giấy hẹn và giấy chứng minh nhân dân để lấy dấu.

TRONG MỌI TRƯỜNG HỢP LÀM GIẤY TỜ VỀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP ĐỀU PHẢI MANG THEO GIẤY CHỨNG MINH NHÂN DÂN

Bước 3: Đăng ký thuế với Cục Thuế tỉnh, thành phố và chi cục thuế

Khi có giấy phép đăng ký kinh doanh , các bạn nhanh chóng photo thành nhiều bản có công chứng rồi đi đăng ký thuế với Cục Thuế tỉnh, thành phố . Nếu sau thời gian bảy ngày mà công ty các bạn chưa đăng ký với cơ quan thuế thì sẽ bị phạt rất nặng theo nghị định 100 ban hành ngày 25/02/2004 của Bộ Tài Chính.

Khi đăng ký với Cục Thuế , họ sẽ cho bạn một bộ hồ sơ kê khai thuế ban đầu và kèm theo một phiếu hẹn.

Bạn cầm bộ hồ sơ đó về điền vào , rồi đưa cho giám đốc ký đóng dấu.

Song song với thời điểm này, cần làm con dấu vuông có khắc tên công ty, mã số thuế, địa chỉ.

Bước 4 : Đăng ký bộ hồ sơ thuế ban đầu với chi cục thuế quận huyện sau khi đã được cấp giấy đăng ký mã số thuế và tiến hành thủ tục mua hoá đơn lần đầu.

Bộ hồ sơ mua hoá đơn lần đầu, cần có các loai giấy tờ sau:
1/Đơn xin mua hoá đơn ( theo mẫu file đính kèm)
2/ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh( ba bản pho to có công chứng)
3/Giấy chứng nhận đăng ký thuế( ba bản photo có công chứng)
4/Hợp đồng thuê nhà hoặc giấy ưng thuận cho mượn nhà( 01 bản photo có công chứng)
5/Bản vẽ sơ đồ địa điểm trụ sở chính từ địa chỉ công ty đến cơ quan thuế 9 giám đốc ký tên đóng dấu)
6/ Giấy giới thiệu người đến mua hoá đơn
7/Bản sao giấy chứng minh nhân dân của giám đốc ( không cần công chứng sao y) và của người đến mua hoá đơn ( kèm theo bảng chính).

Tình huống luật với công ty hợp danh


Em có một tình huống về luật như sau, xin được anh chị giải đáp giúp:

Ba cá nhân A,B,C đứng ra thành lập công ty, đều là thành viên hợp danh. Sau một năm kể từ ngày cấp giấy đăng ký kinh doanh. Thành viên A đăng ký thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Khi biết điều này, thành viên B và C quyết định khai trừ A ra khỏi công ty nhưng A phản đối cho rằng quyết định của B và C là không đúng với luật doanh nghiệp 2005. Vậy anh, chị nào hay cho em biết ý kiến về sự việc trên?

 Luật đã quy định rất rõ -  Tình huống đưa ra đã rất rõ ràng, và trường hợp này Luật DN 2005 cũng quy định rõ ràng tại điều 133, 135 và 138.

A thành lập DNTN mà không được sự đồng ý của B, C là sai, trái với quy định tại khoản 1, điều 133.

Nói B,C quyết định khai trừ A thì không chính xác lắm về mặt chủ thể ra quyết định; chính xác phải là Hội đồng thành viên quyết định khai trừ A. Tuy nhiên, ta giả thiết B,C tương đương 2/3 số thành viên hợp danh; do vậy, có thể chấp nhận rằng "thành viên B và C quyết định khai trừ A ra khỏi công ty". Việc khai trừ A được căn cứ vào điều 135 và 138 Luật DN.

To marketing2008: Trong 2 cái DNTN và Cty HD thì chỉ chọn 1, chọn cái nào thì tùy người chọn, có ai bắt buộc đâu. Tuy nhiên, cũng có thể xảy ra trường hợp được chọn cả 2 nếu đã là thành viên Cty Hợp danh và được các thành viên hợp danh khác đồng ý cho phép làm chủ 1 DNTN khác.

Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (SACOMBANK)

Loại hình ngân hàng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần.

Thành lập: 1991

Vốn điều lệ: 2.089 tỷ đồng (11/2006)

Các thông tin khác:
Mạng lưới trong nước của Sacombank gồm 163 chi nhánh và phòng giao dịch.
Hệ thống đại lý quốc tế có 8900 đại lý tại 222 ngân hàng của 88 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Năm 2003 Sacombank xúc tiến thành lập công ty Liên doanh Quản lý Quỹ Đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VietFund Management, gọi tắt là VFM) là liên doanh giữa Sacombank (nắm giữ 51% vốn điều lệ) và Dragon Capital (DC – nắm giữ 49% vốn điều lệ). VFM là công ty quản lý quỹ đầu tiên tại Việt Nam và chứng chỉ Quỹ đầu tư VF1 (VFMVF1) cũng là chứng chỉ quỹ đầu tiên được niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (ngày 08/11/2004).
Đạt hai kỷ lục trong lĩnh vực chứng khoán Việt Nam:
Ngân hàng đầu tiên niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam (STB)
Quỹ đầu tư chứng khoán đầu tiên niêm yết chứng chỉ quỹ trên thị trường chứng khoán Việt Nam (VFMVF1)
Một số giải thưởng do Chính Phủ Việt Nam và các tập đoàn tài chính quốc tế uy tín trao tặng: Ngọn Hải Đăng, Thương hiệu Việt nổi tiếng, Doanh nghiệp Việt Nam uy tín chất lượng, Ngân hàng tốt nhất tại Việt Nam trong cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ (do SMEDF bình chọn), ngân hàng có dịch vụ ngoại hối tốt nhất Việt Nam do các định chế tài chính khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bình chọn, thực hiện xuất sắc thanh toán quốc tế do tập đoàn City Group trao tặng, giải thưởng “Outstanding Quality In Payment Formatting And Straight Through Rate” lần thứ 2 liên tiếp do Ngân Hàng Standard Chartered tặng,...

Thông tin liên hệ:

Asa griggs candler - nhà sáng lập công ty CoCa-Cola: “Các mối quan hệ là những tài sản vô giá”


Đối với nước Mỹ, từ lâu nhãn hiệu Coca-Cola (Coke) đã trở thành một nét văn hóa không thể tách rời. Khi có ý định thay đổi công thức ban đầu của loại nước ngọt có gas vào giữa thập niên 1980, Công ty Coca-Cola đã bị phản ứng dữ dội từ công chúng. Ngày nay, Coke được bán ở nhiều cửa hàng bán lẻ, nhà hàng và các máy bán hàng tự động ở hơn 200 nước trên thế giới. Coca-Cola đã trở thành một trong những công ty lớn nhất ở Mỹ và cũng là nhà sản xuất, phân phối và tiếp thị các loại nước giải khát không cồn lớn nhất thế giới với doanh thu hơn 24 tỉ USD và khoảng 71 ngàn nhân viên. Người tạo ra những thành công này là Asa Candler.

Asa Griggs Candler sinh ngày 30/12/1851 ở Villa Rica, bang Georgia. Cậu là con thứ tám của một gia đình có đến 11 người con. Candler lớn lên trong thời kỳ nước Mỹ diễn ra nội chiến. Cha của Candler là một thương nhân giàu có, sở hữu nhiều bất động sản. Thế nhưng chiến tranh đã làm khánh kiệt gia đình của Candler, có lúc họ thường xuyên phải chịu cảnh sống thiếu trước hụt sau. Năm mười tuổi, Candler phải nghỉ học để làm việc trong nông trại của cha. Khi có điều kiện để theo học ở trường Cao đẳng Emory thì cậu lại nhường cơ hội đó cho người anh trai.



Máu kinh doanh đã xuất hiện ở Candler từ khi cậu còn rất nhỏ. Một hôm, nghe thấy tiếng ồn ào từ gian bếp của nông trại gia đình, nơi có nuôi nhiều gà, cậu chạy lại xem và phát hiện ra một con chồn. Candler đã đuổi con chồn quanh nhà cho đến khi bắt được nó bằng tay không, dù bị con chồn cắn và để lại một vết sẹo vĩnh viễn. Candler đã quyết định giết nó để lấy da đem đi bán. Lúc đầu, Candler nghĩ rằng mình chỉ bán được bộ da chồn với giá 75 xu nhưng cuối cùng cậu đã bán được 1 USD. “Người đàn ông mua bộ da còn muốn mua thêm nữa. Vì thế tôi bắt đầu vận động mọi người xung quanh đi bắt chồn để lấy da bán và số tiền mà chúng tôi kiếm được cũng kha khá” - Candler kể lại.

Ngay khi còn nhỏ Candler rất quan tâm đến lĩnh vực y khoa nhưng lại không có tiền để học trường y nên theo đuổi ngành dược. Năm 1877, cùng với một đồng nghiệp cũ của mình là Marcellus Hallman, Candler đã thành lập một cơ sở bán lẻ dược phẩm. Vào thời đó, các dược sĩ thường nổi tiếng nhờ tạo ra được các loại thuốc trị bách bệnh nhưng… hầu như chẳng có tác dụng gì! Qua nhiều năm, những loại thuốc như vậy ngày càng trở nên phổ biến vì chúng có vị ngọt chứ không phải vì có tác dụng chữa bệnh tốt. Từ đó, các tiệm dược phẩm cũng trở thành nơi để người ta đến thưởng thức một loại nước uống thông thường trong sinh hoạt hàng ngày.

Những sản phẩm đầu tiên của Candler là các loại nước hoa và “dầu cù là thông máu”. Những sản phẩm này được bày bán trong cửa hàng dược phẩm của anh. Cửa hàng này nhanh chóng ăn nên làm ra và giúp cho Candler có tiền để mua hẳn cổ phần của đối tác. Trong vòng mười năm sau đó, công ty của Candler đã trở thành một trong những doanh nghiệp dược lớn nhất ở Atlanta với thu nhập hơn 100 ngàn USD mỗi năm. Tài sản cá nhân của Candler cũng tăng lên đến 50 ngàn USD. Candler tiếp tục sản xuất và bán nhiều loại dược phẩm, mỹ phẩm khác nhau cho đến một ngày anh bị chứng đau nửa đầu hành hạ.

Trong lúc Candler tìm mọi cách để thoát khỏi cơn đau nửa đầu, anh đã dùng thử một sản phẩm ít được biết đến do một dược sĩ đồng nghiệp ở Atlanta có tên là John Smyth Pemberton bào chế. Pemberton gọi sản phẩm này là Coca-Cola - một loại “thuốc bổ thần kinh” có gas và trị chứng đau đầu có công thức chính là lá và hạt của cây coca (kola). Pemberton đã bán loại nước uống này ở cửa hàng của mình trong một thời gian dài với giá 5 xu một ly. Khi uống Coca-Cola, ngay lập tức chứng đau đầu của Candler giảm hẳn.

Sự kiện nói trên đã khiến Candler quyết định bán tất cả các dược phẩm trong cửa hàng của mình và nhiều vật dụng khác để gom về một số vốn khoảng 50 ngàn USD, sau đó chỉ dùng 500 USD đầu tư vào công ty của Pembeton. Đến năm 1891, Candler tìm cách kiểm soát toàn bộ sản phẩm Coca-Cola với giá chỉ có 2.300 USD và dùng số tiền còn lại để sản xuất và tiếp thị loại nước uống này.

Năm 1892, Candler thành lập công ty Coca-Cola ở Georgia với số vốn 100 ngàn USD. Trong thời gian đầu, Candler tập trung vào việc tiếp thị Coca-Cola như một loại nước uống hàng ngày. Năm 1899, hai luật sư ở Tennessee đã đến gặp Candler để đặt vấn đề hợp tác đóng chai cho loại nước uống này. Trong một quyết định sai lầm, Candler đã bán quyền đóng chai và phân phối nước Coca-Cola độc quyền cho họ. Trong thập niên 1890-1900, doanh số bán Coca-Cola đã tăng từ 30.000 lít lên 1,4 triệu lít. Sau này, Coca-Cola phải mất rất nhiều thời gian và công sức để mua lại quyền đóng chai và phân phối.

Đến năm 1916, Coca-Cola thu được lợi nhuận 27 triệu USD. Qua nhiều năm, doanh số bán của Coca-Cola liên tục tăng trưởng và đưa công ty đến vị trí thống lĩnh thị trường. Đến nay, công thức của Coca-Cola vẫn là một trong những bí mật được giữ kín nhất trên thế giới. Theo nhiều nguồn tin, chỉ có hai giám đốc điều hành của công ty có thể tiếp cận với hòm sắt lưu giữ công thức này.

Ngoài lĩnh vực nước giải khát, Candler cũng khá thành công trong các lĩnh vực ngân hàng và bất động sản. Ông cũng từng giữ chức thị trưởng thành phố Atlanta từ năm 1916 đến năm 1919. Candler qua đời ngày 12/3/1929 vì chứng đột quỵ. Trước khi ra đi, ông đã rất nổi tiếng với các hoạt động từ thiện của mình. Candler đã đóng góp khá nhiều cho Đại học Emory, Bệnh viện Emory và dành ra 50 mẫu đất để xây dựng Công viên Candler. Nhưng điều quan trọng nhất là ông đã để lại cho các thế hệ doanh nhân đi sau những bài học quý giá sau đây.

1. Thông điệp tiếp thị phải dễ nhớ. Ngược với công thức chế biến của Coca-Cola vốn được cất giữ như một bí mật, các thông điệp tiếp thị của sản phẩm này luôn gần gũi và dễ nhớ đối với người tiêu dùng. Lúc đầu, thông điệp mà Candler đưa ra ở cửa hàng là “Hãy uống Coca-Cola”. Ngày nay, trong một gia đình có nhiều thế hệ, hầu như các thành viên thuộc bất cứ thế hệ nào cũng đều có thể nhớ vài chương trình quảng cáo của Coca-Cola. Tạo ra những thông điệp tiếp thị dễ nhớ và được lặp lại thường xuyên là một trong những bí quyết mà công ty có giá trị hàng tỉ USD này đã thực hiện từ ngày đầu mới thành lập cho đến nay.

2. Sáng tạo trong xây dựng nhãn hiệu. Từ cách thiết kế chai đặc thù để khách hàng chỉ cần sờ vào, không nhìn mà vẫn nhận biết được đó là chai Coca-Cola, đến các thông điệp tiếp thị thể hiện tính độc đáo và chân thật, Candler luôn nỗ lực sáng tạo để làm cho khách hàng nhận diện được ngay Coca-Cola.

3. Trung thành với những giá trị ban đầu. Bằng cách giữ nguyên công thức Coke cổ điển, Candler đã xây dựng lòng trung thành của khách hàng đối với nhãn hiệu ở mức cao mà không phải doanh nghiệp nào cũng làm được.

4. Phải có tầm nhìn chiến lược. Pemberton chỉ tiếp thị Coca-Cola như một loại nước uống trị chứng đau đầu, nhưng đến lượt mình, Candler đã biến nó thành một loại nước uống thông dụng. Ông muốn người tiêu dùng không chỉ uống Coca-Cola khi họ không khỏe mà xa hơn, ông muốn làm cho nó trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống hàng ngày.

5. Xem các mối quan hệ là những tài sản vô hình và vô giá. Chỉ với chưa đến 2 USD để khởi nghiệp và không hề được trải qua trường lớp, nhưng Candler đã trở thành một trong những doanh nhân thành đạt và nổi tiếng nhất thế giới. Bí quyết của ông là sử dụng các mối quan hệ và những lợi thế riêng có của mình. Đối với Candler, đó là những tài sản có giá trị hơn nhiều so với những tài sản hữu hình mà ông đã có được.

Công ty Offshore và các lợi thế trong nền kinh tế thế giới


Các khu offshore đầu tiên xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 theo sáng kiến của một loạt các quốc gia nhỏ, nhưng hướng tới sự phát triển trên cơ sở nền tảng của việc kinh doanh đa quốc gia. Đó là những điểm tích trữ và trung chuyển trong việc dịch chuyển tư bản (vốn) trên toàn cầu. Chính phủ của các quốc gia này ganh đua nhau đến mức tối đa trong việc cung cấp những ưu đãi về thuế, đơn giản hoá những thủ tục trong việc báo cáo tài chính và giữ bí mật về thành phần cổ đông của các công ty offshore.

Những dịch vụ này trở nên hấp dẫn đến mức, hiện nay có thể nói về việc hình thành cộng đồng thương mại thế giới về nền tiểu văn hoá offshore.

Tại sao lại là Offshore?

Không phải ngẫu nhiên mà các nước phát triển với hệ thống thuế khắt khe luôn tìm cách hạn chế hoạt động của offshore khi khởi xướng những cuộc điều tra chống tham nhũng dưới biểu tượng của FATF. Những ưu thế các sơ đồ offshore lớn đến mức nó trở thành một yếu tố quyết định trong cạnh tranh thị trường.

Thứ nhất, offshore giải quyết vấn đề khác biệt trong chế độ thuế giữa các quốc gia khác nhau. Ở các vùng offshore, thuế lợi tức doanh nghiệp, thông thường chỉ là một vài phần trăm hoặc đôi khi là không tồn tại. Thuế tài sản ở mức tối thiểu, không đánh thuế các khoản thu nhập (cổ tức, tiền lãi ngân hàng…), đó là những nét riêng dành cho những vùng offshore đặc biệt.
Thứ hai, offshore giúp cho việc lấy lại tối đa những lợi ích từ việc quản lý tài chính doanh nghiệp, đầu tư và “cổ phần, hùn vốn”. Rất nhiều các vùng offshore đặt ra những ưu đãi về thuế khi tiến hành đầu tư giữa các công ty mà có gắn liền với quyền sở hữu. Điều này quan trọng khi hinh thành các Holding.
Khi thực hiện những sở đồ thương mại, việc thành lập công ty và kế toán tài chính được giản lược rất nhiều, tạo điều kiện để phát triển và phối hợp chuỗi móc xích giữa các đối tác trung gian. Việc có những thỏa thuận về việc tránh đánh thuế kép giữa những vùng offshore tạo điều kiện thực hiện trung chuyển tiền tệ qua các vùng này với những chi phí về thuế nhỏ nhất. Cuối cùng, chính tại các vùng offshore, các công ty nước ngoài cảm thấy mình tự tin hơn là ở Nga, và tích cực giao dịch hơn với các đối tác Nga khi những đối tác này có các offshore của mình. Mua ở đâu, bán ở đó.

Ở Nga, lợi ích của offshore được các doanh nghiệp ngoại thương đánh giá đầu tiên (đó là các công ty tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa). Nhằm lôi kéo lại những khoản lợi tức nằm trong diện bị đánh thuế ở Nga, các doanh nghiệp Nga ký các hợp đồng ngoại với các đối tác nước ngoài không phải qua các công ty Nga mà qua các offshore “con”. Kết quả là mức thu nhập của các hoạt động như vậy trong các báo cáo tài chính cho cục thuế đã được giảm xuống, thậm chí có công ty Nga còn hoàn toàn khai lỗ từ những hợp đồng như vậy.

Mức độ phổ biến của việc tích lũy lợi tức ở các vùng offshore đạt đến mức mà không ít các hợp đồng giữa các công ty Nga chỉ trình ra cho cục thuế một phần rất nhỏ so với số liệu thực tế. Phần lớn các dịch chuyển tư bản (tất nhiên, khi có sự đồng nhất giữa các bên) chỉ diễn ra giữa các công ty offshore của các bên tham gia hợp đồng. Kết quả là việc đánh thuế lợi tức doanh nghiệp cho những hoạt động như vậy bị giảm xuống mức tối thiểu.

Tolling là một sở đồ đã trở nên nổi tiếng nhờ ảnh hưởng của chiến tranh thông tin và được tiến hành như sau: Các công ty offshore liên kết với các tollinger, đó là những người cung cấp trực tiếp nhưng nguyên liệu không bị đánh thuế cho các nhà máy nhôm của Nga để sau đó xuất khẩu khỏi Nga các thành phẩm (theo như quy định của Bộ luật hải quan, chương 9-10). Hoạt động của các tollinger hầu như không bị đánh thuế, và do đó sơ đồ Tolling được tất cả các nhà máy lớn sản xuất nhôm ở Nga sử dụng. Điểm cao trào đạt đến khi xuất hiện Tolling nội địa. Kết quả là những ưu đãi không thể tưởng tượng được đã đem về cho hầu hết các công ty offshore. Và chỉ nhờ những cố gằng của một công ty cạnh tranh là “Sibirskogo Aluminhia” (đó là công ty không có cơ sở nhiên liệu ở Nga) thì việc Tolling nội địa bị cấm hoàn toàn.

Thế nhưng cho đến thời điểm hiện tại, các công ty nhôm Nga vẫn bắt tay với các công ty offshore. Không phải ngẫu nhiên mà trong vòng nửa đầu năm 2003, 98% của 1,2 tỷ USD đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp luyện kim màu được ghi trong mục “các nước khác”, nghĩa là chỉ đến các vùng offshore của các “nhà đầu tư”. Theo sự phát triển của kinh doanh trong nước, nảy sinh ra một vấn đề liên quan đến uy tín của các offshore được sử dụng. Đây là một vấn đề mở, mặc dù về mặt nguyên tắc, sơ đồ giải quyết đã có từ lâu. Để thực hiện, thông thường, cần một loạt mắt xích các công ty.

Ví dụ, hoạt động thương mại chính được thực hiện do công ty của một quốc gia lớn nào đó, đơn cử như Vương quốc Anh. Uy tín của công ty với tư cách là bạn hàng lớn đến mức mà nó không có lợi tức buôn bán mà chỉ thu về những khoản hoa hồng tối thiểu từ các hợp đồng ngoại, bởi vì đây là công ty offshore. Ai trả nhiều hơn. Nếu như một doanh nghiệp không tham gia các nghiệp vụ ngoại thương và cũng không hề có ý định bắt đầu, việc giảm thuế lợi tức có thể làm được khi phải trả lãi phần trăm tiền vay từ những offshore “của mình”. Điều 269 Bộ luật thuế của Nga cho phép làm điều này mà không có hậu quả gì cả, nếu như mức lãi hàng năm không vượt quá mức 15% (tính bằng ngoại tệ). Nếu như vay vốn không hợp lý lắm, có thể lấy từ các offshore những thương hiệu hàng hóa đã được đăng ký, quyền tác giả, sở hữu trí tuệ khác hoặc là ký hợp đồng sử dụng bản quyền. Trong trường hợp đầu tiên, có thể chuyển cho công ty offshore khoản tiền khá lớn, còn trong trường hợp thứ hai, thực hiện việc trả tiền đều đặn theo giấy phép sử dụng bản quyền.

Cũng đáng chú ý về sơ đồ mà “Norinski Niken” sử dụng. Trong một khoảng thời gian ngắn một công ty bạn hàng là Norimet Ltd. đã tích trữ được một lượng tài sản khá lớn, sau đó toàn bộ cổ phiếu của công ty offshore được bán lại cho “Norinski Niken”.

Thỏa ước về "tính trong sạch"

Năm 2000 đánh dấu một xu hướng khác, đặc biệt rõ nét trong các ngành công nghiệp dầu khí: các nhà doanh nghiệp Nga thấy cần phải chỉ rõ mức lãi để cho khách hàng thấy mức độ thành đạt và hấp dẫn của việc đầu tư. Cần phải chia tay với việc chuyến tiền ra các vùng offshore, và thay vào đó, sơ đồ “tối ưu hóa” mức thuế lợi tức đã có những phương pháp khác tinh vi hơn. Song song với điều này, vai trò của offshore không hề giảm sút, như ví dụ sau: hợp đồng giữa TNK và BP, và kết quả là được đăng ký tại vùng đảo Virgin của Vương quốc Anh. Ví dụ này cũng như các ví dụ khác cho thấy, offshore là phương án tối ưu để cuốn hút vốn vào các công ty Nga từ những nhà đầu tư chiến lược nước ngoài.

Ngoài những nến tảng luật quen thuộc đối với những công ty nước ngoài, offshore còn tạo điều kiện cho họ nhận những khoản cổ tức hàng năm với tổn thất về thuế ở mức tối thiểu. Khả năng “tối ưu hóa” mức thuế cho các khoản cổ tức có ở nhiều vùng offshore. Hơn nữa, ở một số vùng còn có thể thành lập những Holding chuyên dùng cho việc thanh toán giữa các công ty mẹ và công ty con. Chuyên đề Holding là một trong những hướng đang phát triển trong việc sử dụng offshore. Việc này có hàng loạt những ưu thế trong công tác hình thành cấu trúc công ty.

Theo như những hoạt động tư vấn cho thấy, vấn đề này ngày càng trở nên thực tiễn hơn. Trong việc xây dựng cơ cấu và điều hành Holding một cách bài bản, song song với việc sử dụng ưu đãi do các nước, ví dụ như: Hà lan, Luxemburg hoặc là Kipr, thực tế có thể giảm mức thuế thu nhập đánh vào cổ tức xuống còn 5-6%. Cổ tức có thể tập trung vào vùng “ảo”, có nghĩa là ở trung tâm của Holding offshore, sau đó có thể phân phối giữa các cổ đông. Sơ đồ như vậy được công ty, ví dụ như YUKOS, sử dụng ở vùng đảo Gibraltar.

Để giảm thiểu những chi phí trong các thành phần của các Holding lớn, người ta kết hợp vào Holding những ngân hàng hoặc các công ty bảo hiểm. Đó là những hoạt động mà ở những vùng offshore còn cung cấp một loạt các ưu đãi về thuế và trong việc hình thành nguồn dự trữ bắt buộc. Công ty offshore còn hữu ích cả trong việc bán lại những cổ phiếu mà mua được lại với giá rẻ mạt từ “Privatization” (tư hữu hóa). Hiện nay, các cổ phiếu này có giá hàng tỷ dollars. Để tránh việc phải khai những khoản thu nhập lớn không thường xuyên, cổ phiếu đầu tiên sẽ được bán cho các offshore “của mình” theo giá mua, và để rồi sau đó chuyển sang cho người mua theo giá thị trường.

Truyền thống buôn bán

Các công ty offshore có thể được sử dụng với tư cách là nhà đầu tư khi đem tài sản của mình đóng góp vào vốn điều lệ của công ty Nga. Trong trường hợp như vậy, công ty offshore mua những máy móc thiết bị đắt tiền và đồng thời thành lập công ty Nga để rồi đem tài sản đó nhập vào vốn điều lệ. Theo sơ đồ như vậy, máy móc thiết bị sẽ không bị đánh thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng. Một điểm hấp dẫn đặc biệt của các vùng offshore là dành cho những công ty vận tải, đầu tiên là những chủ tàu, bởi vì ở đây có ưu đãi đáng kể cho thuế lợi tức và thuế tài sản doanh nghiệp (là những chi phí lớn trong hoạt động vận tải). Chính vì vậy, rất nhiều tàu biển trên thể giới mang cờ Liberi hoặc Panama.

Để thực hiện những sơ đồ đã nêu cần phải tính đến một loạt các yếu tố: quan trọng hàng đầu là cơ sở luật pháp của quốc gia cho đăng ký công ty offshore, có hay không những thỏa thuận tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia khác, uy tín của quốc gia này… Các công ty offshore có thể được sử dụng với tư cách là nhà đầu tư khi đem tài sản của mình đóng góp vào vốn điều lệ của công ty Nga. Trong trường hợp như vậy, công ty offshore mua những máy móc thiết bị đắt tiền và đồng thời thành lập một công ty Nga để rồi đem tài sản đó nhập vào vốn điều lệ.

Theo sơ đồ như vậy, máy móc thiết bị sẽ không bị đánh thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng. Một điểm hấp dẫn đặc biệt của các vùng offshore là dành cho những công ty vận tải, đầu tiên là những chủ tàu, bởi vì ở đây có ưu đãi đáng kể cho thuế lợi tức và thuế tài sản doanh nghiệp (là những chi phí lớn trong hoạt động vận tải). Chính vì vậy, rất nhiều tàu biển trên thể giới mang cờ Liberi hoặc Panama.

Lời kết cho offshore

Các sơ đồ offshore, có lẽ, còn lâu trong tương lai sẽ vẫn còn hấp dẫn đối với giới kinh doanh Nga, cho dù các sơ đồ “tối ưu hóa” mức thuế ở Nga nhiều khi không thua kém gì về mức độ lợi ích. Khó mà có thể thay đổi tình thế và sự tích cực đấu tranh với hiện tượng này của các nước phát triển với đại diện là FATF. Bởi vì nó tập trung trọng tâm không phải là vào việc chống thương mại, mà là chống các tổ chức tội phạm sử dụng tính bảo mật của offshore.

Tuy nhiên, chính vì tính song hành giữa “tiền sạch” và “tiền bẩn” mà có thể trở thành yếu huyệt của công ty Bạn trong cuộc đấu tranh không lành mạnh với việc sử dụng Interpol và FATF hoặc thậm trí trong cuộc đấu tranh chính trị - quân sự, ví dụ như “trục ma quỷ”. Nhưng đó là đề tài khác.

Công ty hợp danh (Partnership)


Công ty hợp danh là một loại hình công ty trong đó các thành viên chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ của công ty mà họ cùng nhau đầu tư vào.

Tại hầu hết các nước, công ty hợp danh được tạo nên từ một hợp đồng hợp tác giữa các cá nhân, những người với tinh thần hợp tác, đồng ý thành lập doanh nghiệp, đóng góp cho nó bằng tài sản, hiểu biết, hoạt động và cùng chia sẻ lợi nhuận. Giữa các thành viên có thể có một hợp đồng hợp tác hoặc một bản tuyên bố hợp tác và trong một số hệ thống luật pháp, những thỏa thuận như vậy có thể được đăng ký và công bố rộng rãi cho công chúng. Ở nhiều nước, công ty hợp danh có thể được coi là có tư cách pháp nhân, trong khi một số nước khác lại có quan điểm trái ngược.


Công ty hợp danh thường có lợi thế hơn so với công ty cổ phần vì nó không phải đóng thuế cổ tức, trên số lợi nhuận thu được, hay nói cách khác tránh được việc bị đánh thuế hai lần.

Hình thức  cơ bản nhất của công ty hợp danh là công ty hợp danh trách nhiệm chung (GP) trong đó mọi thành viên đều tham gia vào điều hành kinh doanh và đều chịu trách nhiệm cá nhân về các khoản nợ của công ty. Hai hình thức khác cũng khá phát triển ở hầu hết các nước là Công ty hợp danh hữu hạn (LP) và Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), Trong công ty hợp danh hữu hạn, ngoài các thành viên quản trị còn có các "thành viên trách nhiệm hữu hạn", những người này từ bỏ quyền điều hành doanh nghiệp để đổi lấy "trách nhiệm hữu hạn" đối với các khoản nợ của công ty. Còn với Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), tất cả các thành viên đều có trách nhiệm hữu hạn trong một mức độ nhất định.

6 công ty khổng lồ được sinh ra trong thời khủng hoảng


Khủng hoảng kinh tế luôn là điều ám ảnh đối với nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong những giai đoạn khó khăn như vậy vẫn có những công ty được lập ra để rồi sau đó trở thành những gã khổng lồ nổi tiếng trên thế giới. Procter & Gambler, IBM, General Ecletric, General Motors, United Technologies Corp và FeDex chính là những ví dụ hùng hồn.

Procter Gamble được tạo dựng trong giai đoạn khủng hoảng 1837

Thợ làm nến William Procter và ông chủ sản xuất xà phòng James Gamble đã hợp lực để thành lập một cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng ở Cincinnati. Đây là một bước kinh doanh mạo hiểm vì tình hình kinh tế của giai đoạn khủng hoảng tài chính lúc này kéo dài tới 6 năm. Các cuộc di dân ồ ạt đến phương Tây trở thành nguyên nhân dẫn đến sự tăng giá đất đai và nạn lạm phát. Dưới thời Tổng thống Mỹ Martin Van Buren, sự phá sản của hàng loạt ngân hàng nước này cũng như sự lo sợ đã khiến cho nền kinh tế vốn đã yếu kém càng trở nên nhanh chóng suy sụp. Nhưng Procter & Gamble đã tồn tại và giúp cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng của hai doanh nhân có them rất nhiều hợp đồng béo bở trong việc cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho quân đội Liên bang trong thời Nội chiến.

Tình trạng hiện nay: Procter & Gamble đã xây dựng được một chuỗi thương hiệu nổi tiếng tại Hoa Kỳ như Tide, Pampers, Oral-B, Iams, Pantene, Duracell và Pringles. Cổ phiếu của công ty vẫn giữ được tính ổn định so với cổ phiếu của các đối thủ như “Johnson & Johnson” hay “Colgate-Palmolive”. Doanh số của P&G càng ngày càng mạnh lên: năm 2008, công ty thu về 83.5 tỉ đô-la, lợi nhuận ròng là 12,1 tỉ đô-la. Người tiêu dùng vẫn thích sử dụng sản phẩm của hãng, bất chấp tình hình kinh tế thế giới có nhiều khó khăn và biến động.



IBM được thành lập trong thời kỳ Suy thoái kéo dài 1873-1896

Giai đoạn này bao gồm hàng loạt các sự kiện “đau buồn”: sàn chứng khoán Viên sụp đổ, luật đúc tiền từ năm 1873 được thông qua mà theo đó, giá trị chuẩn của bạc không còn hiệu lực khiến cho các nhà đầu tư không có cơ hội tạo dựng liên minh dài hạn. Các ngân hàng Hoa Kỳ lâm vào cảnh phá sản hàng loạt và tạo nên nạn khủng hoảng kéo dài 20 năm từ 1873 đến 1893.

Nhưng ba chiến dịch khởi sự của Tabulating Machine Company, International Time Recording Company và Computing Scale Corporation – trong giai đoạn này đã đưa ra công nghệ mới đáp ứng nhu cầu cần thiết lúc bấy giờ, bất chấp nền kinh tế đang trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc. Ví dụ, đồng hồ tính thời gian làm việc của công nhân được coi là điều quan trọng và cần thiết, khi mà nền sản xuất công nghiệp của thời trước đó nở rộ. Ngoài ra, các máy móc tổng hợp-phân tích cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc tính toán sự gia tăng dân số do làn song di dân. Ba công ty này đã hợp nhất vào năm 1911 thành tổ hợp “Computing-Tabulating-Recording Company” để rồi sau đó đổi tên thành IBM.

Tình trạng hiện tại: Thành công vang dội của IBM trong thập niên 60 đã khiến cho Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã phải nhảy vào cuộc điều tra chống độc quyền mà hậu quả là IBM đã chịu khá nhiệu thiệt hại, trong hàng thập kỷ sau này, và đó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi tận gốc trong hoạt động kinh doanh của IBM. Đầu thập niên 90 là khoảng thời gian không mấy tốt đẹp đối với công ty này. Dưới sự lãnh đạo của Lou Gerstner, công ty đã xem xét lại mô hình kinh doanh của mình bằng cách tổng hòa cả sản phẩm lẫn dịch vụ. Năm 2008, công ty đã thu được 103,6 tỉ đô-la.



"General Electric" được sinh ra trong thời kỳ khủng hoảng 1873

Cuộc khủng hoảng năm 1873 đã mở đầu cho một thời kỳ suy thoái kéo dài, khi hang đầu tư Jay Cooke & Co. Lâm vào cảnh phá sản và dẫn đến việc đóng cửa sàn chứng khoán New York NYSE mấy ngày sau đó. Cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra sau các sự kiện này kéo dài 6 năm trời.

Đây là tín hiệu cho thấy thời điểm lý tưởng đã đến để tạo dựng phòng thí nghiệm riêng cho mình chăng? Thomas Edison đã tự hỏi mình như vậy và quyết định mở một phòng thí nghiệm tại TP. Menlo Park vào năm 1876, và sau đó 3 năm, ông đã cho ra đời chiếc bong điện đầu tiên của mình. Cũng thời gian này, tình hình khủng hoảng đã có dấu hiệu chững lại. Mặc dù các điều kiện kinh tế  thời gian này cũng không có gì khả quan cho đến tận năm 1896 nhưng Edison đã chuẩn bị sức mạnh cho mình để xây dựng công ty có tên gọi “Edison General Electric Company”. Năm 1896, “Edison GE” lần đầu tiên trong lịch sử được xuất hiện trong bảng xếp hạng Dow Jones Industrial Average.

Tình trạng hiện tại: Năm 2008, doanh thu của GE đạt mức 183 tỉ đô-la, dù lợi nhuận ròng giảm xuống 19%. Lợi nhuận từ các mảng sản phẩm tiêu dùng và công nghiệp trong vòng một năm đã giảm xuống mức 65%, lợi nhuận của GE Capital giảm xuống gần mức 30%. Mặc dù mảng năng lượng cho thấy mức tăng trưởng lợi nhuận, song công ty vẫn phải đối mặt với khả năng khó khăn trong năm 2009.



General Motors được thành lập trong giai đoạn khủng hoảng 1907

Chúng ta hãy quay trở về thời Tổng thống Theodore Roosevelt, trước khi ngân hàng trung ương đưa ra quyết định rằng việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp phụ thuộc vào các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp đó. Năm 1907, nhiều ngân hàng lớn đã tỏ ý muốn kiểm soát cổ phiếu của United Copper Company. Khi các ngân hàng này thất bại, dân chúng đã ngay lập tức rút tiền ra khỏi hệ thống ngân hàng khiến cho một loạt quỹ tài chính cũng như cơ quan tín dụng lâm vào cảnh lao đao.

Những điều này đã không làm cho William Duran, một nhà sản xuất конных повозок, từ bỏ ý định thử nghiệm một công nghệ mới dưới tên gọi xe hơi. 16/9/1908, ông thành lập công ty GM, sau đó hợp nhất Buick và Oldsmobile vào công ty mình. Cuộc khủng hoảng 1907 kết thúc vào tháng 6 năm 1908. Và đó quả là quãng thời gian tuyệt vởi cho GM, khi công ty đưa ra nhiều phát minh đồ sộ.

Tình trạng hiện tại: Năm 2008, giá nhiên liệu tăng cao và sự sụp đổ của thị trường chứng khoán đã khiến cho cổ phiếu nhiều công ty mất 85% giá trị. Các đối thủ của GM cũng lao đao. Tháng Mười 2008, GM đã cùng Chrysler và Ford đệ trình lên chính phủ yêu cầu trợ giúp nguồn tài chính trị giá 34 tỉ đô-la dưới hình thức bán cổ phần cho nhà nước.

United Technologies Corp ra đời trong thời gian diễn ra cuộc Đại Suy thoái

Năm 1929 không chỉ là một năm tồi tệ với thị trường chứng khoán khiến cho nền kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng mà còn là năm khởi đầu cho sự thành lập của một “đại gia” về công nghiệp vũ trụ. United Aircraft and Transport Corporation đã bắt đầu hoạt động dưới hình thức một công ty mẹ bao gồm các công ty hàng không, công ty sản xuất thiết bị hàng không, hãng hàng không như Boeing.

Phần lớn các ngành công nghiệp lúc này đang đối mặt với một giai đoạn cực kỳ khó khăn United Aircraft lại thu được thành công vang dội. Trong vài năm đầu thành lập, công ty đã quy tụ xung quanh nhiều đơn vị, xí nghiệp để hiệp lực phản đối luật chống độc quyền. Năm 1934, Boeing và United Airlines tách ra, còn United Aircraft chuyển đổi thành UTC.

Tình trạng hiện tại: Năm 2008, UTC thu về 58,7 tỉ đô-la. Năm ngoái, UTC đã sa thải hàng nghìn nhân viên và sẽ tiếp tục chính sách này trong quý I/2009.

Federal Express được thành lập trong giai đoạn khủng hoảng dầu lửa 1973

Doanh nhân Frederic V. Smith là người có khả năng xác định được nhu cầu kinh doanh, chính xác là nhu cầu chuyển các tài liệu quan trọng trong thời hạn gấp gáp– 1 đến 2 ngày. Tháng 6/1971, ông thành lập công ty “Federal Express” và năm 1973 bắt đầu làm việc cho sân bay quốc tế. Memphic. Trong đêm hoạt động đầu tiên, công ty đã chuyển được  186 đơn vị hàng hóa tới 25 thành phố khác nhau trên lãnh thổ nước Mỹ.



Nhưng trên vũ đài quốc tế, mọi việc diễn ra không bình lặng chút nào. Trong vòng một tháng, nhiều quốc gia Ả rập đã thực hiện chính sách cấm xuất khẩu dầu lửa sang Mỹ. Mặc dù đây có thể là thông tin khủng khiếp đối với sự tồn tại của công ty – một đơn vị đang phụ thuộc vào nguồn dầu lửa cho hoạt động vận chuyển song Federal Express vẫn sống sót và có được lợi nhuận vào tháng 7/1975, khi giá dầu lửa đã trở nên ổn định.

Tình trạng hiện tại: Ban đầu, có vẻ như vào năm 2008, lịch sử của giai đoạn hình thành công ty dường như đang được lặp lại, khi giá nhiên liệu bỗng dưng tăng vùn vụt. Nhưng sau khi giá nhiên liệu giảm xuống, FedEx lại phải đối mặt với các vấn đề khác: sự suy sụp của nền kinh tế đã khiến cho nguồn cầu trong vận chuyển giảm xuống rõ rệt. Và đây cũng là giai đoạn khó khăn trong lịch sử 35 năm của công ty.

Xin hỏi về tạo tình huống thành lập công ty cổ phần

Mình có một tình huống về luật, mong được mọi người góp ý giúp:


Tạo tình huống thành lập công ty cổ phần :
Hoàn cảnh, chủ thể, thời gian, không gian, căn cứ vào điều luật nào...
Có sự mâu thuẫn , bất đồng ý kiến
Nêu cách giải quyết


Tình huống của bạn là gì? - Mình chưa thấy bạn nêu tình huống về luật bạn có gì cả. Phải chăng bạn muốn mọi người đưa giúp tình huống về luật, các mâu thuẫn, cách giải quyết... cho bạn luôn?

Nếu cần một tình huống luật thì mình thấy đơn giản mà.

Ví dụ:


Năm tháng 12/1995, A, B muốn thành lập công ty cổ phần nhưng chỉ có hai thành viên, vì thế A nhờ C đứng giúp tên trong công ty về mặt giấy tờ. Việc này có giấy tờ cam kết nhờ đứng tên hộ của A và C, với B là người làm chứng. A đã nộp đầy đủ phần vốn của mình và của C. Sau đó A và C mâu thuẫn cá nhân nên C không đồng ý đứng tên giúp nữa mà lại đòi chia lợi nhuận của công ty, nếu không anh ta dọa sẽ kiện ra tòa.


Theo bạn, A có thể thắng kiện không nếu B đứng ra làm chứng? Cách giải quyết của bạn là gì?


Luật doanh nghiệp - Câu hỏi của bạn khá rộng nên mình không thể trả lời cụ thể tình huống cho bạn. Giống như bạn lsu8x đã nêu, muốn thành lập CTCP phải tối thiểu có 3 cổ đông, còn những vấn đề khác bạn có thể tham khảo Luật Doanh Nghiệp được Quốc hội ban hành ngày 29/11/2005.


Trong quá trình đăng kí hoạt động kinh doanh, bạn phải xây dựng Điều Lệ Công Ty, điều lệ này được xem là luật của Công ty và cách giải quyết mâu thuẫn và bất đồng ý kiến đều được dựa trên bản Điều lệ này. Khi xây dựng Điều lệ Công ty, bạn phải tham khảo Luật doanh nghiệp có hướng dẫn, dễ dàng hơn thì bạn có thể download một mẫu Điều lệ CTCP trên website của Sở Kế Hoạch và Đầu Tư, tuy nhiên điều lệ này khá chung chung và không chặt chẽ lắm. Mình cũng đã từng mất khá nhiều thời gian xây dựng Điều lệ CTy, nếu bạn thật sự cần thiết hãy liên lạc, mình sẽ gửi cho bạn tham khảo!


Quy định về Công ty TNHH một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2005


Có ý tưởng kinh doanh mới chỉ là bước khởi đầu cơ bản trên con đường lập nghiệp, quan trọng hơn hết là ý tưởng đó được đưa vào thực tiễn thế nào? Trong bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu về Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) 1 thành viên, một trong các loại hình công ty khi đăng ký kinh doanh hiện nay.

1. Định nghĩa

Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

2. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty

a. Quyền

- Chủ sở hữu công ty là tổ chức
Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty;
Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý công ty;
Quyết định các dự án đầu tư có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
Quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
Thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do Điều lệ công ty quy định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
Quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty;
Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác;
Quyết định thành lập công ty, góp vốn vào công ty khác;
Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty;
Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty;
Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty;
Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải thể hoặc phá sản;
Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
- Chủ sở hữu công ty là cá nhân
Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
Quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác;
Chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác;
Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty;
Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty;
Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải thể hoặc phá sản;
Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
b. Hạn chế quyền

- Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác; trường hợp rút một phần hoặc toàn bộ vốn đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức khác thì phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty.

Trường hợp chuyển nhượng một phần vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác, công ty phải đăng ký chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày chuyển nhượng.

- Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.

c. Nghĩa vụ

-  Góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết; trường hợp không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty.

- Tuân thủ Điều lệ công ty.

- Phải xác định và tách biệt tài sản của chủ sở hữu công ty và tài sản của công ty.

- Chủ sở hữu công ty là cá nhân phải tách biệt các chi tiêu của cá nhân và gia đình mình với các chi tiêu trên cương vị là Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

- Tuân thủ quy định của pháp luật về hợp đồng và pháp luật có liên quan trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê, cho thuê và các giao dịch khác giữa công ty và chủ sở hữu công ty.

- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

3. Cơ cấu tổ chức quản lý

a. Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức

- Chủ sở hữu công ty bổ nhiệm một hoặc một số người đại diện theo uỷ quyền với nhiệm kỳ không quá năm năm để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan. Người đại diện theo uỷ quyền phải có đủ các tiêu chuẩn và điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 48 Luật Doanh nghiệp.

- Chủ sở hữu công ty có quyền thay thế người đại diện theo uỷ quyền bất cứ khi nào.

Trường hợp có ít nhất hai người được bổ nhiệm làm đại diện theo uỷ quyền thì cơ cấu tổ chức quản lý của công ty bao gồm Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; trong trường hợp này, Hội đồng thành viên gồm tất cả người đại diện theo uỷ quyền.

- Trường hợp một người được bổ nhiệm làm người đại diện theo uỷ quyền thì người đó làm Chủ tịch công ty; trong trường hợp này cơ cấu tổ chức quản lý của công ty bao gồm Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên.

- Điều lệ công ty quy định Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam; nếu vắng mặt quá ba mươi ngày ở Việt Nam thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty.

* Hội đồng thành viên

- Hội đồng thành viên nhân danh chủ sở hữu công ty tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty; có quyền nhân danh công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ sở hữu công ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

- Quyền, nghĩa vụ, nhiệm vụ cụ thể và chế độ làm việc của Hội đồng thành viên đối với chủ sở hữu công ty được thực hiện theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật có liên quan.

- Chủ sở hữu công ty chỉ định Chủ tịch Hội đồng thành viên. Nhiệm kỳ, quyền và nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng thành viên áp dụng theo quy định tại Điều 49 và các quy định khác có liên quan của Luật này.

- Thẩm quyền, cách thức triệu tập họp Hội đồng thành viên áp dụng theo quy định tại Điều 50 của Luật này.

* Chủ tịch công ty

- Chủ tịch công ty nhân danh chủ sở hữu tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty; có quyền nhân danh công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ sở hữu công ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

- Quyền, nghĩa vụ, nhiệm vụ cụ thể và chế độ làm việc của Chủ tịch công ty đối với chủ sở hữu công ty được thực hiện theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật có liên quan.

- Quyết định của Chủ tịch công ty về thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty có giá trị pháp lý kể từ ngày được chủ sở hữu công ty phê duyệt, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.

* Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

- Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty bổ nhiệm hoặc thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc với nhiệm kỳ không quá năm năm để điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước pháp luật và Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình.

- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các quyền sau đây:
Tổ chức thực hiện quyết định của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;
Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty;
Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty;
Ban hành quy chế quản lý nội bộ công ty;
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;
Ký kết hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;
Kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức công ty;
Trình báo cáo quyết toán tài chính hằng năm lên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;
Kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh;
Tuyển dụng lao động;
Các quyền khác được quy định tại Điều lệ công ty, hợp đồng lao động mà Giám đốc hoặc Tổng giám đốc ký với Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty.
- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
Có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật này;
Không phải là người có liên quan của thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, người có thẩm quyền trực tiếp bổ nhiệm người đại diện theo uỷ quyền hoặc Chủ tịch công ty;
Có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế tương ứng trong quản trị kinh doanh hoặc trong các ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty hoặc tiêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.
* Kiểm soát viên

- Chủ sở hữu công ty bổ nhiệm một đến ba Kiểm soát viên với nhiệm kỳ không quá ba năm. Kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ sở hữu công ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình.

- Kiểm soát viên có các nhiệm vụ sau đây:
Kiểm tra tính hợp pháp, trung thực, cẩn trọng của Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu, trong quản lý điều hành công việc kinh doanh của công ty;
Thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo đánh giá công tác quản lý và các báo cáo khác trước khi trình chủ sở hữu công ty hoặc cơ quan nhà nước có liên quan; trình chủ sở hữu công ty báo cáo thẩm định;
Kiến nghị chủ sở hữu công ty các giải pháp sửa đổi, bổ sung, cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành công việc kinh doanh của công ty;
Các nhiệm vụ khác quy định tại Điều lệ công ty hoặc theo yêu cầu, quyết định của chủ sở hữu công ty.
- Kiểm soát viên có quyền xem xét bất kỳ hồ sơ, tài liệu nào của công ty tại trụ sở chính hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty. Thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin về thực hiện quyền chủ sở hữu, về quản lý, điều hành và hoạt động kinh doanh của công ty theo yêu cầu của Kiểm soát viên.

- Kiểm soát viên phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:
Có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật này;
Không phải là người có liên quan của thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người có thẩm quyền trực tiếp bổ nhiệm Kiểm soát viên;
Có trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm nghề nghiệp về kế toán, kiểm toán hoặc trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế trong ngành, nghề kinh doanh chủ yếu của công ty hoặc tiêu chuẩn, điều kiện khác quy định tại Điều lệ công ty.
* Nghĩa vụ của thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên

- Thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên có các nghĩa vụ sau đây:
Tuân thủ pháp luật, Điều lệ công ty, quyết định của chủ sở hữu công ty trong việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao;
Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty và chủ sở hữu công ty;
Trung thành với lợi ích của công ty và chủ sở hữu công ty. Không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
Thông báo kịp thời, đầy đủ và chính xác cho công ty về các doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có cổ phần, phần vốn góp chi phối. Thông báo này được niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty;
Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
- Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không được tăng lương, trả thưởng khi công ty không có khả năng thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn.

* Thù lao, tiền lương và lợi ích khác của người quản lý công ty và Kiểm soát viên

- Người quản lý công ty và Kiểm soát viên được hưởng thù lao hoặc lương và lợi ích khác theo kết quả và hiệu quả kinh doanh của công ty.

- Chủ sở hữu công ty quyết định mức thù lao, lương và lợi ích khác của thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty và Kiểm soát viên. Thù lao, tiền lương và lợi ích khác của người quản lý công ty và Kiểm soát viên được tính vào chi phí kinh doanh theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và được thể hiện thành mục riêng trong báo cáo tài chính hằng năm của công ty.

b. Cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân

- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân có Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Chủ sở hữu công ty đồng thời là Chủ tịch công ty. Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty.

- Chủ tịch công ty có thể kiêm nhiệm hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.

- Quyền, nghĩa vụ, nhiệm vụ cụ thể của Giám đốc được quy định tại Điều lệ công ty, hợp đồng lao động mà Giám đốc hoặc Tổng giám đốc ký với Chủ tịch công ty.

4. Tăng, giảm vốn điều lệ

- Công ty TNHH một thành viên không được giảm vốn điều lệ.

- Công ty TNHH một thành viên tăng vốn điều lệ bằng việc chủ sở hữu công ty đầu tư thêm hoặc huy động thêm vốn góp của người khác.

Chủ sở hữu quyết định hình thức tăng và mức tăng vốn điều lệ. Trường hợp tăng vốn điều lệ bằng việc huy động thêm phần vốn góp của người khác, công ty phải đăng ký chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thành viên mới cam kết góp vốn vào công ty.